|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 10/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Quế.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Dung;
Ông Kim Niệm.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Tống Phi Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Duy K, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1996 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1966; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 27/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, ngày 12/7/2023 đã chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Về nhân thân:
Ngày 16/6/2017, bị Công an xã T, thị xã T, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã chấp hành xong.
Ngày 22/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” ngày 20/7/2013 đã chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 19/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” ngày 18/6/2018 đã chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 29/04/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 19/5/2021 đã chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo Nguyễn Duy K đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lãnh Văn V, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tạm trú tại: Áp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tôn Thị Thu T, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Ông Vũ Trọng N, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Tổ C, ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
- Ông Nông Văn T1, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 09/03/2024, Nguyễn Duy K điều khiển xe mô tô biển số 47H1-74370 đến nhà nghỉ L1 ở ấp Đ, xã P, huyện P do ông Vũ Trọng N quản lý, K thuê phòng số 5 để nghỉ qua đêm. Khoảng 3 giờ 29 phút ngày 10/3/2024 K thức dậy đi ngang qua phòng số 8 thấy ông Lãnh Văn V và bà Nguyễn Thị N1 đang ngủ say, cửa phòng không khóa. K nảy sinh ý định đi vào lấy trộm tài sản để tiêu xài, K đẩy cửa đi vào trong phòng lấy 01 cái bóp da rồi đi trở lại phòng số 5, K mở ra lấy số tiền 1.680.000 đồng. Sau đó, K quay lại phòng số 8 để lại cái bóp trên bàn, K trả phòng rồi điều khiển xe mô tô đi. Khi phát hiện mất tài sản ông V trình báo Công an xã P. Qua xác minh Công an xã P làm việc với K, K đã thừa nhận hành vi của mình.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ:
01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh đen, tình trạng vỡ màn hình không còn hoạt động, 01 (một) cái quần Jean ngắn, màu xanh – trắng, bị rách phía trước cả hai bên; Đây là tài sản cá nhân của K không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định số 562 ngày 10/05/2024 trả lại cho bị cáo K.
01 (một) áo thun màu trắng, có cổ, ngắn tay, phía trước có sọc xanh trắng, chữ GUCCI. Xét thấy không liên quan đến việc phạm tội. Đề nghị trả cho bị cáo K.
01 (một) xe mô tô biển số 47H1 - 74370, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 47H1-74370 do Nông Văn T1, nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đứng tên chủ sở hữu. Ông T1 cho bị cáo K mượn làm phương tiện đi lại, không biết bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, K đã trả xe mô tô biển số 47H1-74370 cho ông T1. Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện P không thu giữ.
Ngày 15/03/2024, bà Tôn Thị Thu T chủ nhà nghỉ B giao nộp số tiền 750.000 đồng là tiền bị cáo K lấy trộm trả tiền thuê nhà nghỉ cho bà T. Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện P đã trả lại cho bị hại V, bà T không yêu cầu K trả lại số tiền này.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại Lãnh Văn V yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy K bồi thường số tiền 930.000 đồng, bị cáo K đồng ý nhưng chưa bồi thường.
Cáo trạng số 60/CT-VKSPG ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Duy K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Duy K bồi thường cho bị hại Lãnh Văn V số tiền 930.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) áo thun màu trắng, có cổ, ngắn tay, phía trước có sọc xanh trắng, chữ GUCCI. Xét thấy không liên quan đến việc phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo K.
Trong phần tranh luận:
Bị cáo Nguyễn Duy K cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và biện pháp tư pháp.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Duy K nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy K đã khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 09/03/2024, bị cáo đến nhà nghỉ L1 thuê phòng số 5 để nghỉ qua đêm. Khoảng 3 giờ 29 phút ngày 10/3/2024 bị cáo Khang thức dậy đi ngang qua phòng số 8 thấy ông Lãnh Văn V và bà Nguyễn Thị N1 đang ngủ say, cửa phòng không khóa, bị cáo K nảy sinh ý định lấy trộm tài sản để tiêu xài, bị cáo đẩy cửa đi vào trong phòng lấy 01 cái bóp da rồi đi trở lại phòng số 5, mở ra lấy số tiền 1.680.000 đồng. Sau đó, bị cáo K quay lại phòng số 8 để lại cái bóp trên bàn, bị cáo K trả phòng rồi điều khiển xe mô tô đi. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy K là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người thực hành với lỗi cố ý trực tiếp. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 1.680.000 đồng (một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, ngày 27/9/2022, bị cáo Nguyễn Duy K bị Tòa án nhân huyện P xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 81/2022/HS-ST, bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/07/2023 nhưng chưa được xóa án tích. Ngày 10/3/2024, bị cáo K tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, lần phạm tội này của bị cáo Nguyễn Duy K thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Như vậy, Cáo trạng số 60/CT-VKSPG ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Duy K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Duy K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà an tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Xét mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Duy K là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Duy K đồng ý bồi thường bị hại Lãnh Văn V số tiền 930.000 đồng (chín trăm ba mươi nghìn đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 (một) áo thun màu trắng, có cổ, ngắn tay, phía trước có sọc xanh trắng, chữ GUCCI, xét thấy đây là tài sản cá nhân không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo K.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 326, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải bồi thường cho bị hại Lãnh Văn V số tiền 930.000 đồng (chín trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự với mức lãi suất tương ứng số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy K 01 (một) áo thun màu trắng, có cổ, ngắn tay, phía trước có sọc xanh trắng, chữ GUCCI.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Nguyễn Duy K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Quế |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Kh phạm tội " Trộm cắp tài sản"
