Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 8/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Vượng và ông Trần Đức Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 8/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2024/HSST ngày 29/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 24/6/2024, đối với các bị cáo:

  1. Lý A V, sinh năm 1996, tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Phúc T và bà Triệu Thị D; vợ là Lê Thị Y ( đã ly hôn ) bị cáo có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024, theo lệnh trích xuất có mặt.
  2. Triệu A C, sinh năm 1995, tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Tài P và bà Triệu Thị P1; có vợ là Phùng Thị C1 (đã ly hôn), bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2013 con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024, theo lệnh trích xuất có mặt.
  3. Triệu Văn H, sinh năm 2003, tại huyện Y, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: thôn Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn T1 và bà Lý Thị H1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024 theo lệnh trích xuất, có mặt.

* Trợ giúp viên pháp lý của bị cáo Triệu A C: Ông Nguyễn Hùng P2 Luật sư thực hiện hợp trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H, có mặt.

*Người làm chứng:

- Ông Ngô Văn L, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, vắng mặt.

- Ông Đào Đình T2, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Tổ A, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên vắng mặt.

- Anh Đào Duy Đ, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên vắng mặt..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 4/03/2024, tại đoạn đường S thuộc khu đô thị V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh H bắt quả tang Triệu Văn H sinh năm 2003, hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Yên Bái đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 03 gói nilon màu xanh, bên trong đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu MT1) và 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu trắng, bên trong có 01 sim liên lạc. Triệu Văn H khai các gói nilon chứa chất màu trắng dạng cục và bột bị thu giữ là ma túy loại Heroine, H mua của Triệu A CLý A V đều trú tại thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái tại P khu C dãy thứ 10 khu đô thị V, huyện V, tỉnh Hưng Yên với giá 600.000 đồng nhằm để sử dụng.

Khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày 4/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên tiến hành rà soát tại P khu C dãy thứ 10 khu đô thị V phát hiện có 02 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, hai nam thanh niên tự khai nhận là Triệu A C sinh năm 1995 và Lý A V sinh năm 1996, cùng trú tại: Thôn S, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vật chứng thu giữ: Thu của Triệu A C 04 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột (niêm phòng ký hiệu MT2); thu giữ của Lý A V 01 chiếc ví giả da màu đen bên trong có tổng số tiền là 680.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng đồng bên trong lắp 02 sim liên lạc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Triệu A CLý A V.

Tại bản kết luận giám định số 254/KL-KTHS(MT) ngày 07/3/2024 của Phòng K- Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT1, có khối lượng là: 0,251g là ma túy, loại Heroine; Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT2, có khối lượng là 0,243g là ma túy, loại Heroine. H2 lại 0,236g ma túy, loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu MT1; 0,226 ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu MT2, các mảnh túi nilon màu xanh gói ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong vật gửi giám định. Mẫu hoàn lại được niêm phong trong 01 phong bì số 254/KL-KTHS(MT) giao cho phòng CSĐTTP về ma túy – Công an tỉnh H quản lý.

Quá trình điều tra xác định: VC cùng là người nghiện ma túy, loại Heroine, sáng ngày 4/03/2024 V rủ C mỗi người góp 500.000 đồng để mua ma túy về cùng sử dụng và bán kiếm lời. Chày và V cùng đi đến khu vực bãi rác thuộc thôn A, xã N, huyện V để mua 07 gói ma túy loại Heroine của 01 người đàn ông ( không rõ tên, tuổi, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng; sau đó đến Phân khu C dãy thứ 10 khu đô thị V, huyện V, tỉnh Hưng Yên bán 03 gói ma túy cho H với giá 600.000 đồng, còn lại 04 gói ma túy chưa tiêu thụ, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H kiểm tra và thu giữ vật chứng. Đối với người đàn ông bán ma túy cho V, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo Triệu Văn H, Lý A VTriệu A C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng và đồ vật thu giữ gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 254/KL-KTHS(MT) của Phòng K bàn giao, 01 ví giả da màu đen, 02 điện thoại được quản lý tại kho vật chứng Công an tỉnh H. Đối với số tiền 680.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã nộp vào tài khoản tạm thu chờ xử lý tại Kho bạc nhà nước tỉnh H.

Cáo trạng số 63/CT-VKS-P1 ngày 28/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Triệu Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lý A V, Triệu A C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; các bị cáo cáo Lý A V, Triệu A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Văn H. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lý A V, Triệu A C (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Triệu A C). Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn H từ 1 năm 6 tháng đến 1 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 4/03/2024; Xử phạt bị cáo Lý A V từ 2 năm 9 tháng đến 3 năm tù, Triệu A C từ 2 năm 6 tháng đến 2 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 4/03/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng và án phí, Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật. Trợ giúp viên pháp lý của bị cáo Triệu A C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại đại phương nên giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo Triệu Văn H, Lý A VTriệu A C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người chứng kiến; Biên bản giữ người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Kết luận giám định số 254/KL- KTHS(MT) ngày 7/03/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đủ căn cứ kết luận: Sáng ngày 4/03/2024 Lý A VTriệu A C đã cùng nhau góp 500.000 đồng mỗi người để mua 0,494g ma túy loại Heroine về bán kiếm lời. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày 04/3/2024. tại P khu C dãy thứ 10 khu đô thị V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, VC đã bán cho Triệu Văn H 0,251g ma túy loại Heroine với giá 600.000 đồng để H sử dụng, khi H đang đi đến đoạn đường S, khu đô thị V, huyện V, tỉnh Hưng Yên đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang, đồng thời bắt giữ VC cùng 0,243g ma túy loại Heroine.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo Triệu Văn H mua 0,251 gam ma túy của bị cáo V và bị cáo C về để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lý A VTriệu A C mua 0,494 gam Heroine để bán lại cho người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Lý A VTriệu A C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Triệu Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội; là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, giành cho các bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng chống tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, riêng bị cáo Triệu A C gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đặc điểm nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng và không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với các mảnh giấy màu xanh gói ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong vật gửi giám định; thu giữ của các bị cáo. Đây là những vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng bên trong lắp 2 sim liên lạc các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước

- Đối với số tiền 680.000 đồng thu giữ của bị cáo Lý A V kèm 01 ví giả da màu nâu đen, trong đó 600.000 đồng là tiền bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách nhà nước, số tiền còn lại và chiếc ví trả lại cho bị cáo.

[7]. Về án phí: bị cáo Triệu A C thuộc diện hộ nghèo tại đại phương nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo Triệu Văn H, Lý A V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự,; Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tội danh và hình phạt:

* Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Văn H. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lý A V, Triệu A C (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Triệu A C)

* Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Các bị cáo Lý A V, Triệu A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy

* Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn H 01 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 4/03/2024; Bị cáo Lý A V 02 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 4/03/2024; Bị cáo Triệu A C 02 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 4/03/2024.

[3]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 254/KL-KTHS(MT) của Phòng ký thuật hình sự bàn giao bên trong có 0,236g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu MT1; 0,226g ma túy loại Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu MT2, các mảnh túi nilon màu xanh gói ma túy, 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu trắng, mặt điện thoại bị vỡ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng, mặt điện thoại bị vỡ bên trong lắp 2 sim liên lạc;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: số tiền 600.000 đồng; trả lại cho bị cáo Lý A V: 80.000 đồng và 01 ví giả da màu nâu.

- (Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).

[4]. Về án phí: Các bị cáo Triệu Văn H, Lý A V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Triệu A C không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

*Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý A V và đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger