|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:68/2024/HS-PT Ngày: 16-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Nhậm.
Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Khánh.
Ông Nguyễn Thiện Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trần Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà:
Bà Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Bá N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Bị cáo kháng cáo:
Đặng Bá N, sinh ngày 19/5/1990. Nơi đăng ký thường trú: thôn H, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số E Quốc lộ A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Bá Ý (chết) và bà Mai Thị H; Có một người em sinh năm 1993; Chưa có vợ; Có một người con sinh năm 2014 do sống chung không có đăng ký kết hôn với Mai Thị H sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt
Những người không kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:
- Bị hại: Công ty cổ phần T
Địa chỉ: Số A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của bị hại: Ông Nguyễn Hoàng H1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số C N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (Theo văn bản uỷ quyền ngày 09/10/2023)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn An V, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số C KDC Đ, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.
2. Ông Nguyễn Hoàng H1, sinh năm 1996
Địa chỉ: Số C N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 05 phút ngày 23/8/2023, do anh V có nhu cầu mua máy điện thoại cho con nên bị cáo Đặng Bá N đi cùng với Nguyễn An V đến cửa hàng T1 di động, địa chỉ tại số A Quốc lộ A, phường B, thành phố T, tỉnh Long An để mua điện thoại. Tại đây, anh V có mua 01 máy điện thoại di động Xiaomi với giá 6.700.000đ (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng), anh V có để lại thông tin cá nhân và số điện thoại cho cửa hàng. Trong lúc giới thiệu và cài đặt máy điện thoại cho anh V thì nhân viên bán hàng là anh Nguyễn Hoàng H1 có để một điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T trên bàn tư vấn. Lợi dụng sơ hở của anh H1 trong lúc quản lý tài sản, giới thiệu và cài đặt máy điện thoại cho anh V thì bị cáo N lén lút thực hiện hành vi lấy một điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T bỏ vào bên trong túi đeo bán vé số đem ra khỏi cửa hàng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo N đem điện thoại hiệu OPPO Reno 8T lấy được của cửa hàng T1 di động đến khu vực sân vận động L bán cho người làm nghề bán điện thoại dạo không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng), bị cáo N dùng số tiền trên lấy vé số để bán và tiêu xài cá nhân. Anh V không biết việc bị cáo N lấy trộm điện thoại, đến ngày 28/8/2023 Công an phường B, thành phố T mời lên làm việc và cho xem đoạn clip trích xuất camera tại cửa hàng Thế giới di động thì anh V mới biết sự việc bị cáo N lấy tài sản của cửa hàng Thế giới di động.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 137/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An, kết luận: Giá trị 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T chưa qua sử dụng tại thời điểm ngày 23/8/2023 là 5.913.000 đồng (Năm triệu chín trăm mười ba nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Hoàng H1 đã nhận số tiền 5.260.000đ (Năm triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) do bị cáo N bồi thường, ông H1 không có yêu cầu gì khác và có làm đơn xin bãi nại không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đặng Bá N.
Tại Bản án số 24 ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Tân An, tỉnh Long An đã tuyên xử.
Tuyên bố bị cáo Đặng Bá N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Bá N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Đặng Bá N phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 27/4/2024, bị cáo Đặng Bá N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xử, bị cáo xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo để chăm lo cho gia đình do: gia đình khó khăn, bị cáo đang trực tiếp nuôi con đang học lớp 4 trường tiểu học.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm có nội dung:
Bị cáo Đặng Bá Nghĩa là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng giá trị là 5.913.000 đồng nên bị cáo N phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khi phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin bãi nại, gia đình bị cáo khó khăn và đang phải nuôi con nhỏ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 3 tháng tù. Sau xét xử bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Xét thấy: Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo và tuyên phạt mức án phù hợp, khi kháng cáo bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ xem xét kháng cáo của bị cáo.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đại diện Viên kiểm sát tham gia phiên tòa Đề nghị HĐXX:
- Áp dụng Điểm a Khoản 1, Điều 355; Điều 356 BLTTHS Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Bá N giữ y Bản án sơ thẩm số 24 ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Tân An, tỉnh Long An đã áp dụng cho bị cáo.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Bản án sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 05 phút ngày 23/8/2023, tại cửa hàng T1, địa chỉ: số A Quốc lộ A, phường B, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Đặng Bá N lợi dụng sự sơ hở của người quản lý cửa hàng đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt một điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T của Công ty cổ phần T có giá trị là 5.913.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 5.913.000 đồng nên đã có đủ căn cứ xác định bị cáo N phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Án sơ thẩm đã áp dụng Khoản 1 Điều 173; diểm b, i, s khoản 1, 2; Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 3 tháng tù bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
[3.1] Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi xét xử sơ thẩm án sơ thẩm đã xác định: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin bãi nại, gia đình bị cáo khó khăn và đang phải nuôi con nhỏ nên đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để áp dụng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử là 3 tháng tù là có căn cứ phù hợp theo quy định của pháp luật. Xét thấy không có căn cứ xem xét giảm nhẹ thêm hình phạt đối với bị cáo.
[3.2] Xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo: bị cáo là người có nơi cư trú rỏ ràng, phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt: Chưa có tiền án, tiền sự; Gia đình bị cáo có khó khăn là có thật: Bị cáo đang trực tiếp nuôi con sinh năm 2014 đang học tại trường Tiểu học L1 thuộc phường D, Thành phố T, tỉnh Long An có xác nhận của chính quyền địa phương. Bị cáo nhất thời phạm tội; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn nên được xem là “Gây thiệt hại không lớn” là tình tiết giảm nhẹ theo quy định taị điểm h, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Trường hợp của bị cáo không thuộc các trường hợp không được cho hưởng án treo theo các nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/20218 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện tự cải tạo mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ căn cứ xét cho hưởng án treo theo quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự. Mặt khác tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình mà nhất là người con chưa thành niên đang cần sự chăm sóc trực tiếp của bị cáo. Thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[4] Từ các nhận xét tại mục [3] Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo. Áp dụng diểm b, khoản 1, Điều 355 và diểm e, khoản 1, Điều 357 Bộ luật tố tục hình sự: Sửa bản án hình sự số 24/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Tân An, tỉnh Long An: Giữ nguyên hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo
[5] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận một phần..
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e, khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Bá N. Sửa bản án sơ thẩm số: 24/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Tân An, tỉnh Long An: Cho bị cáo được hưởng án treo.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bá N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Bá N 03 (ba) tháng tù. Được cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 01(Một) năm. Thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên án Phúc thẩm (16-7-2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố T, tỉnh Long Am giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách,
nếu bị cáo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tóa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được áp dụng điểu 92 Luật thi hành án hình sự
2.Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Đặng Bá Nghĩa N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3.Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Văn Nhậm |
Bản án số 68/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 68/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Bá N- Trộm cắp TS
