Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-7-2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu ;

Bà Hoàng Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn V, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Phạm Trọng H, sinh năm 1991; Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Hiện anh H đang lao động tại Đài Loan.

(Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị M trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Trọng H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 19/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn anh chị chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do anh H chơi bời, không tu chí làm ăn, vợ chồng lâm vào cảnh nợ nần nhiều nên thường xuyên cãi nhau. Năm 2017, do kinh tế khó khăn nên vợ chồng chị đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan. Quá trình lao động tại Đài Loan, anh H vẫn tiếp tục chơi bời, nợ nần nên mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng. Vì vậy đến năm 2021, mặc dù vợ chồng chị vẫn cùng lao động tại Đài Loan nhưng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Sau khi anh chị mâu thuẫn căng thẳng, sống ly thân, gia đình đã khuyên ngăn, hòa giải nhưng vì không còn tình cảm nên vợ chồng chị không thể đoàn tụ. Đến nay chị M xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh H

+Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phạm Khánh C, sinh ngày 18/12/2015 và Phạm Khánh D, sinh ngày 28/9/2019. Hiện nay cả hai con chung đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng, con chung được học tập đầy đủ, phát triển tốt. Anh H vẫn đang lao động ở nước ngoài, không thể trực tiếp nuôi dưỡng con chung, con chung có nguyện vọng được ở với chị M nên chị M đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – anh Phạm Trọng H gửi văn bản đề ngày 20/5/2024 trình bày ý kiến:

+ Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoản cảnh, thời gian kết hôn đúng như chị M đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do kinh tế khó khăn, vợ chồng không hiểu và thông cảm cho nhau. Năm 2017 vợ chồng anh đi lao động tại Đài Loan nhưng vẫn tiếp tục xảy ra nhiều mâu thuẫn và đến năm 2021 vợ chồng anh đã sống ly thân. Nay chị M xin ly hôn, anh Hòa đồng ý ly hôn.

+Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung như chị M đã trình bày. Hiện nay cả hai con chung đang do chị M nuôi dưỡng, anh H ở nước ngoài không thể nuôi dưỡng con chung nên anh H đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị M nuôi dưỡng. Do chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh Hòa đồng ý không cấp dưỡng nuôi con chung.

+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày ý kiến của cháu Phạm Khánh C (là con chung của chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Trọng H) thể hiện nguyện vọng được ở với chị M khi anh chị ly hôn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bị đơn - anh Phạm Trọng H hiện đang lao động tại Đài Loan nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[1.2] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã nhận được bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề tên Phạm Trọng H có chữ ký và điểm chỉ vân tay. Tòa án đã đề nghị cơ quan Công an tiến hành đối chiếu dấu vân tay trên hai văn bản này, kết quả xác định dấu vân tay trên hai văn bản này là dấu vân tay ngón trỏ phải và ngón trỏ trái của anh Phạm Trọng H. Như vậy quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Trọng Hòa kết h trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do kinh tế khó khăn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Chị M và anh H đều trình bày anh chị sống ly thân từ năm 2021 đến nay, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã căng thẳng kéo dài. Khi anh chị mâu thuẫn, đã được gia đình khuyên ngăn, hòa giải, nhưng không thành, chị M xin ly hôn, anh Hòa đồng ý ly hôn là thể hiện cả hai không muốn duy trì cuộc sống hôn nhân nữa. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị M ly hôn anh H là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Trọng H có hai con chung là Phạm Khánh C, sinh ngày 18/12/2015 và Phạm Khánh D, sinh ngày 28/9/2019. Chị M có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, anh H đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị M nuôi dưỡng, cháu C có nguyện vọng được ở cùng chị M. Xét thấy, việc giao cả hai con chung cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự, phù hợp với mong muốn của con chung và cũng đảm bảo sự ổn định phát triển cho con chung nên cần giao cả hai con chung cho chị M nuôi dưỡng.

Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản: Chị M và anh H đều xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Phạm Trọng H

2. Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Phạm Khánh C, sinh ngày 18/12/2015 và Phạm Khánh D, sinh ngày 28/9/2019. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị M đã nộp tại biên lai số 0000181 ngày 14/5/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Anh Phạm Trọng H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình
  • - Đương sự,
  • - UBND xã Phú Xuân, tp. Thái Bình
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Linh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger