|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyên Khang - Thư ký, Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lê Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 280/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 162b/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phượng A, sinh năm: 1981; địa chỉ: Số E N, phường K, quận C, TP .. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm: 1975; địa chỉ: Số E N, phường K, quận C, TP .. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/7/2024 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Phượng A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phượng A và ông Phạm Văn C xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, Tp., hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống với nhau tại nhà riêng tại E N, phường K, quận C, Tp .. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng từ sau khi bà A sinh 2 con song sinh thì ông Phạm Văn C có nhiều mối quan hệ ngoài luồng, bà A đã nhiều lần khuyên nhủ ông C để chăm lo cuộc sống gia đình và nuôi dạy con cái, nhưng ông C không nhận lỗi lầm và tiếp tục các mối quan hệ bất hợp pháp đến nhiều năm sau. Quá trình chung sống vợ chồng có rất nhiều mâu thuẫn, nhưng bà A vẫn chấp nhận tha thứ vì lo cho các con, để con không phải chịu thiệt thòi, vẫn mong ông C suy nghĩ lại và quay về với gia đình. Tuy nhiên, ông C không thay đổi và nhiều lần hành hung, đánh đập bà A. Nhận thấy vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa, mâu thuẫn kéo dài nhiều năm và ngày càng trầm trọng không giải quyết được. Vợ chồng đã sống ly thân, phần ai nấy sống từ tháng 3/2020 đến nay, không ai còn quan tâm chăm sóc đến nhau, vợ chồng không còn tình nghĩa, không thể hàn gắn được nên bà A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn C.
- Về quan hệ con chung: Bà A và ông C có 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Anh Q, Phạm Nguyễn Anh M, cùng sinh ngày: 25/9/2006. Khi khởi kiện sửa đổi, bổ sung bà A yêu cầu giao cả 2 con cho bà A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi mỗi con 10.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình Tòa án giải quyết đến ngày 25/9/2024 bà A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và sửa đổi yêu cầu đối với 2 con chung đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
* Bị đơn ông Phạm Văn C: mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông C đều vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến Tòa án để làm việc, vắng mặt không có lý do và không văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phượng A.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Phượng A đối với ông Phạm Văn C.
Về nuôi con chung: Các con của bà A và ông C đã đủ 18 tuổi, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Phượng A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
Các đương sự chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phượng A khởi kiện bị đơn là ông Phạm Văn C để yêu cầu ly hôn. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”; bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ theo quy định.
[1.2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phượng A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn Ông Phạm Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn C.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phượng A và ông Phạm Văn C xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng vào ngày 15/7/2005 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau tại phường K, quận C. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, cho đến sau khi bà A sinh con thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả nhau. Nguyên nhân theo bà Phượng A xác định là do ông C có những quan hệ bên ngoài, có người phụ nữ khác nên về nhà gây sự, chửi bới xúc phạm và còn có hành vi đánh đập bà A. Bà A nhiều lần khuyên nhủ ông C để chăm lo cuộc sống gia đình và nuôi dạy con cái, nhưng ông C không nhận lỗi lầm và tiếp tục các mối quan hệ bất hợp pháp đến nhiều năm sau, mâu thuẫn vợ chồng vẫn kéo dài. Nay bà A xác định không còn tình cảm, yêu thương ông C nữa, vợ chồng không còn tình nghĩa nên bà Nguyễn Thị Phượng A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Phạm Văn C.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để cho ông Phạm Văn C có ý kiến trình bày nhưng ông C đều vắng mặt, không tham gia tất cả các phiên hòa giải. Tại phiên tòa ngày 11/9/2024 cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Văn C vẫn không có mặt và không có văn bản phản hồi ý kiến. Điều đó thể hiện ông C không có thiện chí hàn gắn tình cảm, xây dựng hạnh phúc gia đình; không có phản hồi và từ bỏ việc trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà A.
Qua xác minh tại tổ dân phố nơi ông Phạm Văn C đang sinh sống, thuộc phường K, quận C xác định được ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị Phượng A là vợ chồng sinh sống tại E N, tổ B, phường K, quận C. Tuy nhiên, từ tháng 10/2022 thì ông C đi khỏi địa phương, ít khi về nhà, ông đi đâu làm gì không rõ. Về mâu thuẫn giữa ông C và bà A thì địa phương không biết rõ.
Với những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà A và ông C đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phượng A với ông Phạm Văn C là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Bà A và ông C có với nhau 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Anh Q, Phạm Nguyễn Anh M, cùng sinh ngày: 25/9/2006. Đến nay 28/9/2024, hai con của bà A và ông C đã đủ 18 tuổi và ngày 25/9/2024 bà A đã có đơn trình bày không yêu cầu giải quyết vấn đề con chung, do đó HĐXX không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Phượng A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập.
[3] Án phí Hôn nhân gia đình: Bà Nguyễn Thị Phượng A phải chịu theo quy định của pháp luật. nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001736 ngày 31/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ. Bà Nguyễn Thị Phượng A đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phượng A đối với ông Phạm Văn C về việc "Ly hôn".
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Phượng A được ly hôn ông Phạm Văn C (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 33, quyển số 01, đăng ký ngày 15/7/2005 tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng).
- Về con chung: Bà A và ông C có 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Anh Q, Phạm Nguyễn Anh M, cùng sinh ngày: 25/9/2006 đã trên 18 tuổi, bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Phượng A phải chịu theo quy định của pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001736 ngày 31/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ. Bà Nguyễn Thị Phượng A đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Bàng |
Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn
- Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P A ly hôn với Pham Văn C
