Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/11/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phi Hùng;
  2. Bà Cao Thị Bích Ngọc;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thủy-Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: không có.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 325/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1971;
  2. Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  3. Bị đơn: Chị Trần Thanh D, sinh năm 1973;
  4. Địa chỉ: số B, tổ G, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Anh N vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt; chị D vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tại bản tự khai anh Huỳnh Văn N trình bày: Anh N và chị D quen biết nhau vào năm 1993, anh N và chị D tìm hiểu nhau được vài tháng thì chung sống với nhau như vợ chồng, không có tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, nên giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng thường hay cự cải nhau dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt, không thể nào hàn gắn lại được và không còn hạnh phúc. Anh N và chị D đã không còn chung sống với nhau từ năm 2011 cho đến nay.

Nay anh N xác định là không còn tình cảm với chị D do đó anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh N được ly hôn với chị D.

- Về con chung: anh N và chị D có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Tú T, sinh ngày 09/11/1993 và Huỳnh Quang L, sinh ngày 06/9/1999. Hiện hai con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên anh N không yêu cầu Tòa án giai quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai của bị đơn chị Trần Thanh D trình bày: Năm 1993 chị D và anh N tự quen biết nhau, có tìm hiểu được vài tháng thì chị D và anh N chung sống với nhau như vợ chồng, chị D và anh N không tổ chức cưới và không có đăng ký kết hôn. Chị D và anh N chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, nên giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng thường hay cự cải nhau dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt, không thể nào hàn gắn lại được và không còn hạnh phúc. Từ năm 2011 chị D và anh N đã sống ly thân cho đến nay.

Phiên tòa hôm nay, anh N và chị D vắng mặt đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập theo quy định của pháp luật, nhưng chị D vắng mặt, anh N và chị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N và chị D theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng dân sự:

Anh Huỳnh Văn N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết việc hôn nhân của anh và chị D. Theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Bị đơn chị Trần Thanh D có hộ khẩu thường trú và cư trú tại số B, tổ G, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố dân sự năm 2015.

Anh Huỳnh Văn N và chị Trần Thanh D đã được tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập theo quy định của pháp luật, nhưng vắng mặt, anh N và chị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh N và chị D.

2. Về quan hệ hôn nhân:

Anh Huỳnh Văn N với chị Trần Thanh D chung sống như vợ chồng từ năm 1993, không có tổ chức cưới, tính đến nay đã có đủ điều kiện kết hôn nhưng anh N và chị D lại không đăng ký kết hôn là đã vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống thời gian đầu thì anh, chị chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau thì phát sinh mâu thuẫn ngày một trầm trọng.

Tại phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 17/10/2024 và đơn xin vắng mặt ngày 17/10/2024, anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh và chị D không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ và cương quyết ly hôn với chị D. Điều đó cho thấy trình trạng hôn nhân giữa anh N với chị D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hơn nữa anh N với chị D sống ly thân đã lâu nhưng vợ chồng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn đoàn tụ, nên anh N xin ly hôn với chị D là có căn cứ.

Bị đơn chị D vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày tại bản tự khai ngày 17/10/2024 và đơn xin vắng mặt ngày 17/10/2024 chị D trình bày thống nhất với nội dung đơn khởi kiện của anh N. Chị D xác định vợ chồng chung sống từ 1993 nhưng không đăng ký kết hôn. Đến 2011 thì ly thân cho đến nay, nay chị D cũng xác định không còn tình cảm với anh N.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân bền vững phải dựa trên cơ sở tự nguyện, thương yêu, quý trọng giúp đỡ lẫn nhau nhưng ngược lại anh N và chị D vì bất đồng quan điểm sống mà sống ly thân không quan tâm đến nhau. Trong suốt một thời gian sống ly thân anh N và chị D cũng không có bất kỳ hành động nào để tạo điều kiện cho gia đình đoàn tụ. Nếu buộc anh N với chị D trở về chung sống thì cũng không tạo được một gia đình hạnh phúc, bền vững. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận anh Huỳnh Văn N và chị Trần Thanh D là vợ chồng là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo qui định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng....”

Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình quy định:

“Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo qui định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này....”

3. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Tú T, sinh ngày 09/11/1993 và Huỳnh Quang L, sinh ngày 06/9/1999. Hiện hai con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, anh N và chị D không yêu cầu Tòa án giai quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung:

Đương sự trình bày không có và không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Anh Huỳnh Văn N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

6. Về quyền kháng cáo:

Anh Huỳnh Văn N và chị Trần Thanh D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Huỳnh Văn N và chị Trần Thanh D.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Tú T, sinh ngày 09/11/1993 và Huỳnh Quang L, sinh ngày 06/9/1999. Hiện hai con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, anh N và chị D không yêu cầu Tòa án giai quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có và không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Anh Huỳnh Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0013627 ngày 17/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Anh V đã nộp xong án phí.

5. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân H Châu Thành (1);
  • - Chi cục THA DS. H Châu Thành (1);
  • - UBND xã An Thái trung, H Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (1);
  • - UBND khóm Phú Mỹ Lương, TT. Cái Tàu Hạ, H Châu Thành (1);
  • - Lưu hồ sơ HNGĐ (1);
  • - Lưu Văn thư(1).(P)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Huỳnh Văn Nhựt và chị Trần Thanh Duyên. 2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Tú Trinh, sinh ngày 09/11/1993 và Huỳnh Quang Linh, sinh ngày 06/9/1999. Hiện hai con chung đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, anh Nhựt và chị Duyên không yêu cầu Tòa án giai quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có và không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger