|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE Bản án số: 68/2024/DS-ST. Ngày: 30-7-2024. V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản giữa ông Đức với bà Loan”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH– TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Hoàng Phúc.
- Bà Âu Thị Kiều Sương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Huỳnh Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1962. Địa chỉ: số D, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Trúc P, sinh năm 1992. Địa chỉ: số C, đường Đ, khu phố M, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
* Bị đơn:
Bà Võ Thị L, sinh năm 1954. Địa chỉ: số D, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Đại diện theo ủy quyền:
- Bà Đồng Thị M, sinh năm 1991. Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
- Ông Trần Thanh G, sinh năm 1978. Địa chỉ: số G, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Văn H, sinh năm 1950.
Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Bà Võ Ngọc N, sinh năm 1960.
Địa chỉ: tổ E, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Võ Minh T, sinh năm 1963.
Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Võ Phú C, sinh năm 1966.
Địa chỉ: tổ E, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai
- Bà Võ Thị Ngọc M1, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Tổ E, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Võ Thị Kim P1, sinh năm 1974.
Địa chỉ: tổ C, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Võ Thị H1, sinh năm 1985.
Địa chỉ: tổ E, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Võ Thị Ngọc L1, sinh năm 1972.
- Bà Võ Thị H2, sinh năm 1978.
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Bà Châu Thị T1, sinh năm 1961.
Địa chỉ: số A, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Châu Thị H3, sinh năm 1963.
Địa chỉ: số 01/kênh ốp, khu phố E, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.
- Bà Châu Thị H4, sinh năm 1965.
Địa chỉ: số D, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Châu Thị T2, sinh năm 1968.
Địa chỉ: số C, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Châu Văn N1, sinh năm 1970.
Địa chỉ: số A, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Châu Văn Ý, sinh năm 1971.
Địa chỉ: số A, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Châu Văn Đ1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: số A, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Châu Thị T3, sinh năm 1975.
Địa chỉ: số A, khu dân cư xã T, thị xã K, tỉnh Long An.
- Ông Châu Văn Ú, sinh năm 1978.
Địa chỉ: số A, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1968.
Địa chỉ: số A, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Thu N2, sinh năm 1972.
Địa chỉ: số D, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Thu H5, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Khu dân cư X, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Thu H6, sinh năm 1977.
Địa chỉ: số D, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Đại diện theo ủy quyền của tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên là bà Lê Thiên N3, sinh năm 1998. Địa chỉ: số I khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Ông Đồng Anh T5, sinh năm 1981. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Cù Thị Hồng L2, sinh năm 1979. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Đồng Thị Thu B, sinh năm 1983. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Trịnh Anh T6, sinh năm 1979. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Đồng Thị Bé H7, sinh năm 1975. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Võ Văn Đ là bà Lê Thị Trúc P trình bày:
Vợ chồng cụ Võ Văn N4 (chết năm 1962) và cụ Trương Thị M2 (chết năm 2000), có tất cả 08 người con chung, gồm:
- Người đầu tiên không nhớ họ tên, chết lúc nhỏ, lúc chết chưa có vợ con.
- Ông Võ Cẩm T7 (sinh năm 1936, chết năm 1987, khi chết có vợ là bà Bùi Thị P2, các con gồm: bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2).
- Bà Võ Thị P3 (sinh năm 1940, chết năm 2017, khi chết có chồng là ông Châu Văn Đ2, các con gồm: bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú).
- Bà Võ Thị H8 (sinh năm 1947, chết năm 1990, khi chết có chồng là ông Nguyễn Văn L3; các con gồm: bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6)
- Ông Võ Văn H, sinh năm 1950.
- Bà Võ Thị L, sinh năm 1954.
- Ông Võ Văn L4 (đã chết, lúc chết không có vợ con).
- Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1962.
Khi còn sống cụ N4, cụ M2 có tạo lập được tài sản là phần đất diện tích 300m² thuộc thửa 448 và phần đất diện tích 900m² thuộc thửa 449, tờ bản đồ 04 tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre do cụ M2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 20/8/1990. Cụ N4, cụ M2 chết đều không để lại di chúc. Do bà L ở chung với cụ M2 nên sau khi cụ M2 chết thì bà L tiếp tục quản lý phần đất này cho đến nay.
Do phần đất thửa 448 và 449, tờ bản đồ 04 là di sản thừa kế của cụ M2 để lại nên khi khởi kiện ông Đ yêu cầu chia diện tích của hai thửa đất trên là 1.200m² thành 06 phần bằng nhau. Ông Đ nhận kỹ phần thừa kế bằng hiện trạng đất cụ thể mỗi người được nhận khoảng 200m². Đối với căn nhà của cụ M2 và cây trồng trên đất đồng ý để bà L tiếp tục quản lý sử dụng, không yêu cầu chia thừa kế.
Qua đo đạc, thửa 448 và 449 hiện nay có số thửa mới là 231, tờ bản đồ 33, diện tích theo bản đồ địa chính là 1323.3m²; theo đo đạc hiện trạng là 1305.6 m². Khi cụ M2 chết thì trên đất chỉ có căn nhà của cụ M2. Hiện nay trên đất có 04 căn nhà gồm: nhà của cụ M2 có ký hiệu thửa tạm 231-1, nhà của Đồng Anh T5 và Cù Thị Hồng L2 có ký hiệu thửa tạm 231-2, nhà của Đồng Thị Thu B và Trịnh Anh T6 có ký hiệu thửa tạm 231-8 và nhà của Đồng Thị Bé H7 có ký hiệu thửa tạm 231-9; 02 nền mộ có ký hiệu thửa tạm 231-5 và 231-6.
Theo “Đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện” ngày 08/9/2024: ông Đ không yêu cầu chia thừa kết đối với phần đất có tổng diện tích là 140.3m² có ký hiệu thửa tạm A; B; D1; D2; D3; 231-5; 231-6. Ông Đ rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần diện tích 1183m², yêu cầu được nhận 01 kỹ phần thừa kế bằng giá trị tiền tương đương phần đất có diện tích 197m², trong đó có 50m² thổ cư. Không yêu cầu chia thừa kế đối với nhà và cây trồng trên đất.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất có ký hiệu thửa tạm C, diện tích 0.3m².
Tóm lại: ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu đối với phần đất 17,3m², yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần đất có diện tích 1182,7m² thuộc một phần thửa 231, tờ bản đồ 33, tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Ông Đ yêu cầu được nhận 01 kỹ phần bằng giá trị tiền tương đương phần đất có diện tích 197m², trong đó có 50m² thổ cư. Đối với căn nhà của cụ M2 và cây trồng trên đất đồng ý để bà L tiếp tục quản lý sử dụng, không yêu cầu chia thừa kế.
Ông Đ thừa nhận bà L có công sức gìn giữ, tôn tạo đất nhưng không xác định được giá trị cụ thể nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phần công sức gìn giữ, tôn tạo đất của bà L theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn thống nhất với các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã được công khai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ M2 sinh năm 1917, theo Trích lục khai tử và trích lục khai sinh của ông Đ thì cụ M2 sinh năm 1918, theo Giấy khai sinh của ông H thì cụ M2 sinh năm 1927 nhưng nguyên và bị đơn thống nhất về di sản thừa kế và hàng thừa kế của cụ M2.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Võ Thị L là bà Đồng Thị M và ông Trần Thanh G cùng trình bày:
Vợ chồng cụ Võ Văn N4 (chết năm 1962) và cụ Trương Thị M2 (chết năm 2000), có tất cả 08 người con chung, gồm:
- Người đầu tiên không nhớ họ tên, chết lúc nhỏ, lúc chết chưa có vợ con.
- Ông Võ Cẩm T7 (sinh năm 1936, chết năm 1987, khi chết có vợ là bà Bùi Thị P2, các con gồm: bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2).
- Bà Võ Thị P3 (sinh năm 1940, chết năm 2017, khi chết có chồng là ông Châu Văn Đ2, các con gồm: bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú).
- Bà Võ Thị H8 (sinh năm 1947, chết năm 1990, khi chết có chồng là ông Nguyễn Văn L3; các con gồm: bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6)
- Ông Võ Văn H, sinh năm 1950.
- Bà Võ Thị L, sinh năm 1954.
- Ông Võ Văn L4 (chết không có vợ con).
- Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1962.
Khi còn sống cụ N4, cụ M2 có tạo lập được tài sản là phần đất diện tích 300m² thuộc thửa 448 và phần đất diện tích 900m² thuộc thửa 449, tờ bản đồ 04 tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre do cụ M2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 20/8/1990. Năm 1999, cụ M2 có cho vợ chồng anh Đồng Anh T5 một phần đất để xây nhà và ở cho đến nay. Năm 2000, cụ M2 tiếp tục cho vợ chồng chị Đồng Thị Thu B một phần đất để xây nhà và ở cho đến nay. Ngoài ra, cụ M2 còn cho chị Đồng Thị Bé H7 một phần đất và chị Bé H7 cũng đã cất nhà ở trên phần đất này. Do bà Mạnh g và không am hiểu pháp luật nên khi cho không có văn bản, không ký hợp đồng tặng cho. Cụ M2 chết không để lại di chúc. Do bà L ở chung với cụ M2 nên sau khi cụ M2 chết thì bà L tiếp tục quản lý phần đất này cho đến nay.
Qua đo đạc, thửa 448 và 449 hiện nay có số thửa mới là 231, tờ bản đồ 33. Hiện nay trên đất có 04 căn nhà (nhà của cụ M2 có ký hiệu thửa tạm 231-1, nhà của Đồng Anh T5 và Cù Thị Hồng L2 có ký hiệu thửa tạm 231-2, nhà của Đồng Thị Thu B và Trịnh Anh T6 có ký hiệu thửa tạm 231-8 và nhà của Đồng Thị Bé H7 có ký hiệu thửa tạm 231-9); 02 nền mộ có ký hiệu thửa tạm 231-4, 231-5 và 231-6 (mộ của cụ Võ Văn N4, mộ của cụ Trương Thị M2, mộ của Đồng Văn T8 và mộ của Võ Văn L4; trên đất có dừa và bưởi đều do bà L trồng.
Bà L thừa nhận phần đất thửa 231, tờ bản đồ 33, tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre là di sản của cụ M2 để lại. Tuy nhiên, bà L không đồng ý chia thừa kế vì: lúc cụ M2 tuổi già sức yếu các anh chị không thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng mà chỉ có bà L chăm sóc; khi cụ M2 chết toàn bộ chi phí tổ chức đám tang, chôn chất, cúng giỗ đều do bà L thực hiện. Bà L muốn giữ phần đất này lại để con cháu ai gặp khó khăn về chỗ ở thì về đây cất nhà, chết thì về chôn trên đất. Trường hợp Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia thừa kế thì đề nghị xem xét về công sức chăm sóc, tổ chức tang lễ, cũng giỗ cho cụ M2, gìn giữ tôn tạo đất của bà L bằng 50% diện tích đất. Phần diện tích còn lại thì chia thừa kế và đề nghị chia bằng hiện vật vì hiện nay bà L đã già, không còn sức lao động, không có thu nhập, không có khả năng hoàn tiền theo yêu cầu của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bị đơn cho rằng giá đất đã định là cao so với thực tế nhưng không yêu cầu định giá lại, thống nhất với các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã được công khai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ M2 sinh năm 1917, theo Trích lục khai tử và trích lục khai sinh của ông Đ thì cụ M2 sinh năm 1918, theo Giấy khai sinh
của ông H thì cụ M2 sinh năm 1927 nhưng nguyên và bị đơn thống nhất về di sản thừa kế và hàng thừa kế của cụ M2.
Đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập gồm: ông Võ Văn H, bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2, bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú, bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 là bà Lê Thiên N3 trình bày:
Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình của nguyên đơn và bị đơn về di sản thừa kế và hàng thừa kế của cụ M2. Thừa nhận bà L có công sức gìn giữ, tôn tạo đất nhưng không xác định được giá trị cụ thể. Bà thống nhất với các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã được công khai.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ M2 sinh năm 1917, theo Trích lục khai tử và trích lục khai sinh của ông Đ thì cụ M2 sinh năm 1918, theo Giấy khai sinh của ông H thì cụ M2 sinh năm 1927 nhưng bà thống nhất về di sản thừa kế và hàng thừa kế của cụ M2.
Ông Võ Văn H, bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2, bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú, bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu đối với phần đất 17,3m². Nay yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần đất có diện tích 1182,7m² thuộc một phần thửa 231, tờ bản đồ 33, tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Ông Võ Văn H yêu cầu được nhận 01 kỹ phần trong đó có 50m² thổ cư được nhận bằng giá trị tiền. Đối với căn nhà và cây trồng tên đất đồng ý để lại cho bà L tiếp tục quản lý, không yêu cầu chia thừa kế.
Những người con của ông Võ Cẩm T7 gồm: bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2 yêu cầu được nhận 01 kỹ phần trong đó có 50m² thổ cư được nhận bằng giá trị tiền. Đối với căn nhà và cây trồng tên đất đồng ý để lại cho bà L tiếp tục quản lý, không yêu cầu chia thừa kế.
Những người con bà Võ Thị P3 gồm: bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú yêu cầu được nhận 01 kỹ phần trong đó có 50m² thổ cư được nhận bằng giá trị tiền. Đối với căn nhà và cây trồng tên đất đồng ý để lại cho bà L tiếp tục quản lý, không yêu cầu chia thừa kế.
Những người con bà Võ Thị H8 gồm: bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 yêu cầu được nhận 01 kỹ phần trong đó có 50m² thổ cư được nhận bằng giá trị tiền. Đối với căn nhà và cây trồng tên đất đồng ý để lại cho bà L tiếp tục quản lý, không yêu cầu chia thừa kế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đồng Anh T5, bà Cù Thị Hồng L2 trình bày:
Ông bà đã nhận được họa đồ hiện trạng sử dụng đất tranh chấp ngày 13/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre. Ông bà thống nhất kết quả đo đạc. Căn nhà xây dựng trên thửa 231, tờ bản đồ 33 (ký hiệu 231-2) là của vợ chồng ông bà. Căn nhà này ông bà được cụ M2 cho đất để xây dựng nhà ở nhưng không có giấy tờ tặng cho. Sau khi cụ M2 chết thì phần đất này do bà L trực tiếp quản lý. Ông bà không có yêu cầu gì trong vụ kiện này. Do không liên quan, không yêu cầu gì trong vụ án nên ông bà xin vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, hòa giải, công khai chứng cứ cũng như xin vắng mặt trong tất cả các phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị Thu B và ông Trịnh Anh T6 trình bày:
Ông bà đã nhận được họa đồ hiện trạng sử dụng đất tranh chấp ngày 13/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre. Ông bà thống nhất kết quả đo đạc. Căn nhà xây dựng trên thửa 231, tờ bản đồ 33 (ký hiệu 231-8) là của vợ chồng ông bà. Căn nhà này ông bà được cụ M2 cho đất để xây dựng nhà ở nhưng không có giấy tờ tặng cho. Sau khi cụ M2 chết thì phần đất này do bà L trực tiếp quản lý. Ông bà không có yêu cầu gì trong vụ kiện này. Do không liên quan, không yêu cầu gì trong vụ án nên ông bà xin vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, hòa giải, công khai chứng cứ cũng như xin vắng mặt trong tất cả các phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị Bé H7 trình bày:
Bà đã nhận được họa đồ hiện trạng sử dụng đất tranh chấp ngày 13/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre. Bà thống nhất kết quả đo đạc. Căn nhà xây dựng trên thửa 231, tờ bản đồ 33 (ký hiệu 231-9) là của cá nhân bà được bà ngoại là cụ Trương Thị M2 cho đất để xây nhà ở nhưng không có giấy tờ. Khi cụ M2 chết thì phần đất này do bà L trực tiếp quản lý. Bà không có yêu cầu gì trong vụ kiện này. Do không liên quan cũng như không yêu cầu gì trong vụ án nên xin vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, hòa giải, công khai chứng cứ cũng như xin vắng mặt trong tất cả các phiên tòa.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của người tham gia tố tụng là đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Các đề nghị về nội dung vụ án: căn cứ Điều 611, 612, 613, 649, 650, 651, 652 BLDS 2015:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Di sản của cụ M2 là 1.182,7m2 (sau khi trừ diện tích các nền mộ, đường đi, phần diện tích chênh lệch giữa ranh và hiện trạng đất, bản đồ địa chính) thuộc thửa 231 tờ bản đồ số 33 tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre chia làm 06 kỷ phần. Bà Võ Thị L được nhận 01 kỷ phần; Ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn H, ông Võ Văn T9 (người thừa kế thế vị là Võ Ngọc N, Võ Minh T, Võ Phú C, Võ Thị Ngọc M1, Võ Thị Kim P1, Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, Võ Thị H2), bà Võ Thị H8 (người thừa kế thế vị là Nguyễn Thị Thu T4, Nguyễn Thị Thu N2, Nguyễn Thị Thu H5 và Nguyễn Thị Thu H6), bà Võ Thị P3 (hàng thừa kế thứ nhất là Châu Thị T1, Châu Thị H3, Châu Thị H4, Châu Thị T2, Châu Văn N1, Châu Văn Ý, Châu Văn Đ1, Châu Thị T3, Châu Văn Ú) mỗi người được nhận 01 kỷ phần là 197m2 trong đó có 50m2 đất thổ cư bằng tiền theo giá của hội đồng định giá. Do bà L là người đang quản lý, sử dụng di sản nên buộc bà L hoàn lại giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền theo giá của hội đồng định giá cho nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Về công sức đóng góp: buộc Ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn H, ông Võ Văn T9 (người thừa kế thế vị là Võ Ngọc N, Võ Minh T, Võ Phú C, Võ Thị Ngọc M1, Võ Thị Kim P1, Võ Thị H1, Võ Thị Ngọc L1, Võ Thị H2), bà Võ Thị H8 (người thừa kế thế vị là Nguyễn Thị Thu T4, Nguyễn Thị Thu N2, Nguyễn Thị Thu H5 và Nguyễn Thị Thu H6), bà Võ Thị P3 (hàng thừa kế thứ nhất là Châu Thị T1, Châu Thị H3, Châu Thị H4, Châu Thị T2, Châu Văn N1, Châu Văn Ý, Châu Văn Đ1, Châu Thị T3, Châu Văn Ú) hoàn lại giá trị công sức gìn giữ, tôn tạo di sản cho bà L theo quy định của pháp luật. Do di sản bà L và các con của bà L đang quản lý, sử dụng nên bà L được tiếp tục quản lý, sử dụng.
- Đối với cây trồng trên đất: ghi nhận nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý cho bà L và các con của bà L quản lý sử dụng và không yêu cầu chia các tài sản này.
- Đối với căn nhà của bà L và các con của bà L trên đất: các đương sự không tranh chấp, nên ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về thừa kế tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đối tượng tranh chấp là phần đất tại huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Đồng Anh T5, bà Cù Thị Hồng L2, bà Đồng Thị Thu B, ông Trịnh Anh T6, bà Đồng Thị Bé H7 có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.
[3] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: nguyên đơn Võ Văn Đ; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Võ Văn Đ là bà Lê Thị Trúc P; đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H, bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2, bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú, bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 là bà Lê Thiên N3 xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất có diện tích 17.3m², thuộc một phần thửa 231, tờ bản đồ số 33 tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, chỉ yêu cầu chia thừa kế phần đất có diện tích 1182,7m². Xét thấy việc rút lại yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các đương sự có tên nêu trên đối với phần đất có diện tích 17.3m², thuộc một phần thửa 231, tờ bản đồ số 33 tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
[4] Về di sản thừa kế:
Các đương sự đều thống nhất nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ M2 nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ “Họa đồ hiện trạng sử dụng đất” ngày 13/3/2023 và các đương sự đều thống nhất với kết quả đo đạc. Có căn cứ xác định di sản thừa kế của cụ M2 là thửa đất số 231, tờ bản đồ số 33, tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.200m², diện tích theo bản đồ địa chính là 1323.3m²; diện tích theo đo đạc hiện trạng là 1305.6 m²; theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 1182.7m², trong đó có 300m² thổ cư, còn lại 882,7m² là đất trồng cây lâu năm.
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/12/2022: trên đất có 04 căn nhà cấp 4 của do bà Võ Thị L, ông Đồng Anh T5 - bà Cù Thị Hồng L2, bà Đồng Thị Bé H7 - ông Trịnh Anh T6, bà Đồng Thị Thu B đang ở; 02 khu mộ; cây trồng có dừa, bưởi, xoài. Hiện tại phần đất tranh chấp do bà L đang quản lý, sử dụng.
Theo biên bản định giá lại ngày 12/3/2024 đất có giá trị như sau:
Đất thổ cư xác định giá là 2.000.000 đ/m2 x 300 m² = 600.000.000 đồng.
Đất cây lâu năm định giá 1.700.000 đ/m² x 882.7 m² = 1.500.590.000 đồng.
Tổng giá trị di sản có tranh chấp là 2.100.590.000 đồng.
[5] Về hàng thừa kế:
Cụ N4 và cụ M2 có tất cả 08 người con, trong đó có 02 người đã chết, khi chết không có vợ con. Ngoài ra, cụ N4 - cụ M2 không có con riêng, con nuôi nào
khác, cha mẹ của cụ M2 đều đã chết. Mặc dù theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ M2 sinh năm 1917, theo Trích lục khai tử và trích lục khai sinh của ông Đ thì cụ M2 sinh năm 1918, theo Giấy khai sinh của ông H thì cụ M2 sinh năm 1927 nhưng nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thống nhất về hàng thừa kế của cụ M2. Do đó, có căn cứ xác định 06 người con gồm: Võ Cẩm T7, Võ Thị P3, Võ Thị H8, Võ Văn H, Võ Thị L, Võ Văn Đ là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ M2.
Ông T7 chết năm 1987 và có con là bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2 nên bà Võ Ngọc N, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2 là thừa kế thế vị của ông T7.
Bà Võ Thị P3 chết năm 2017 và có con là bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú nên bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú là thừa kế thế vị của bà P3.
Bà Võ Thị H8 chết năm 1990 và có con là bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 nên bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 là thừa kế thế vị của bà H8.
[5] Xét công sức của bà L:
Bà L là người có công sức gìn giữ, trông coi, tôn tạo phần đất tranh chấp từ năm 2000 đến nay. Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận cho bà L được hưởng 01 kỷ phần đối với công sức gìn giữ, tôn tạo di sản thừa kế. Như vậy, di sản của cụ M2 là phần đất có diện tích 1182.7m² chia làm 07 kỷ phần, bà L được nhận 02 kỷ phần; ông Đ, ông H mỗi người được nhận 01 kỷ phần, những người thừa kế thế vị của bà H8 được nhận 01 kỷ phần, những người thừa kế thế vị của bà P3 được nhận 01 kỷ phần, những người thừa kế thế vị của ông T7 được nhận 01 kỷ phần.
[6] Do phần lớn diện tích đất đã được xây nhà kiên cố cùng nhiều ngôi mộ được chôn cất trên đất nên không thể tiến hành chia bằng hiện vật. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia thừa kế bằng giá trị tiền theo giá của hội đồng định giá đã định. Toàn bộ di sản thừa kế mà nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu chia có tổng giá trị là 2.100.590.000 đồng. Do đó 01 kỷ phần có giá trị là 2.100.590.000 đồng : 7 = 300.084.000 đồng.
[7] Xét về nhu cầu sử dụng đất: 04 căn nhà trên đất hiện tại do bà L cùng các con đang ở, các ngôi mộ do bà L trông coi và cây trồng trên đất cũng do bà L quản lý nên Hội đồng xét xử giao thửa đất số 231, tờ bản đồ số 33 cho bà L tiếp tục quản lý sử dụng. Bà L phải có trách nhiệm hoàn lại giá trị kỷ phần thừa kế bằng tiền theo giá
của Hội đồng định giá đã định cho nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[8] Những người liên quan gồm: Đồng Anh T5 - Cù Thị Hồng L2, Đồng Thị Thu B - Trịnh Anh T6, Đồng Thị Bé H7 đã xây nhà và hiện đang ở trên đất nhưng không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đồng Anh T5 - Cù Thị Hồng L2, Đồng Thị Thu B - Trịnh Anh T6, Đồng Thị Bé H7 được quyền khởi kiện thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
[9] Các đề nghị của kiểm sát viên về việc giải quyết nội dung vụ án tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về chi phí tố tụng khác (bao gồm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản, trích lục) là 13.255.000 đồng. Ông Đ, ông H mỗi người phải chịu 1.894.000 đồng, những người thừa kế thế vị của ông T7 phải chịu 1.894.000 đồng, những người thừa kế thế vị của bà P3 phải chịu 1.894.000 đồng, những người thừa kế thế vị của bà H8 phải chịu 1.894.000 đồng, bà L phải chịu 3.788.000đ. Do ông Đ đã nộp xong nên buộc ông H có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Đ 1.894.000 đồng, những người thừa kế thế vị của ông T7 có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Đ 1.894.000 đồng, những người thừa kế thế vị của bà P3 có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Đ 1.894.000 đồng, những người thừa kế thế vị của bà H8 có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Đ 1.894.000 đồng, bà L có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Đ 3.788.000đ.
[11] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Văn Đ, bà Võ Thị L, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc N5, ông Võ Minh T, bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3 thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ Luật dân sự năm 2015.
- Các Điều 26, 35, 39, 147, 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn H, bà Võ Ngọc N5, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2, bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú, bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 đối với phần đất có diện tích 17.3m², thuộc một phần thửa 231, tờ bản đồ số 33 tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Đ; yêu cầu độc lập của ông Võ Văn H, bà Võ Ngọc N5, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2, bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú, bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Trương Thị M2 là phần đất có diện tích 1182,7m² thuộc một phần thửa đất 231, tờ bản đồ số 33, tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
3. Buộc bà Võ Thị L có trách nhiệm giao cho ông Võ Văn Đ số tiền tương đương 01 (một) kỷ phần thừa kế là 300.084.000 (Ba trăm triệu không trăm tám mươi bốn ngàn) đồng.
Buộc bà Võ Thị L có trách nhiệm giao cho Võ Văn H số tiền tương đương 01 (một) kỷ phần thừa kế là 300.084.000 (Ba trăm triệu không trăm tám mươi bốn ngàn) đồng.
Buộc bà Võ Thị L có trách nhiệm giao cho các con ông Võ Cẩm T7 gồm bà Võ Ngọc N5, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2 số tiền tương đương 01 (một) kỷ phần thừa kế là 300.084.000 (Ba trăm triệu không trăm tám mươi bốn ngàn) đồng.
Buộc bà Võ Thị L có trách nhiệm giao cho các con bà Võ Thị P3 gồm: bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú số tiền tương đương 01 (một) kỷ phần thừa kế là 300.084.000 (Ba trăm triệu không trăm tám mươi bốn ngàn) đồng.
Buộc bà Võ Thị L có trách nhiệm giao cho các con bà Võ Thị H8 gồm: bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 số tiền tương đương 01 (một) kỷ phần thừa kế là 300.084.000 (Ba trăm triệu không trăm tám mươi bốn ngàn) đồng.
4. Ghi nhận các đương sự không tranh chấp, đồng ý để bà Võ Thị L tiếp tục quản lý sử dụng cây trồng và căn nhà của cụ Trương Thị M2 trên thửa 231, tờ bản đồ số 33, tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
5. Bà Võ Thị L được nhận thửa 231, tờ bản đồ số 33, tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre và các tài sản gắn liền với đất.
(Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)
6. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung quyết định của bản án này.
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ quyết định của bản án để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L khi có yêu cầu đối với thửa 231, tờ bản đồ số 33, tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
7. Về chi phí tố tụng khác:
- Buộc ông H có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Võ Văn Đ 1.894.000 (Một triệu tám trăm chín mươi bốn ngàn) đồng.
- Buộc những người thừa kế thế vị của ông Võ Cẩm T7 gồm: bà Võ Ngọc N5, ông Võ Minh T, ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2 có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Đ 1.894.000 (Một triệu tám trăm chín mươi bốn ngàn) đồng.
- Buộc những người thừa kế thế vị của bà Võ Thị P3 gồm: bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3, bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Đ 1.894.000 (Một triệu tám trăm chín mươi bốn ngàn) đồng.
- Buộc những người thừa kế thế vị của bà H8 gồm: bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Đ 1.894.000 (Một triệu tám trăm chín mươi bốn ngàn) đồng.
- Buộc bà L có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Đ 3.788.000 (Ba triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn) đồng.
8. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Ông Võ Văn Đ, bà Võ Thị L, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc N5, ông Võ Minh T, bà Châu Thị T1, bà Châu Thị H3 được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Con ông T7 gồm: ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2 phải liên đới nộp 15.004.000 (Mười lăm triệu không trăm lẻ bốn ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000 (Bản triệu năm trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứngaln phí, lệ phí Tòa án số 0010634 ngày 24/11/2022. Ông Võ Phú C, bà Võ Thị Ngọc M1, bà Võ Thị Kim P1, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị Ngọc L1, bà Võ Thị H2 còn phải liên đới nộp thêm 7.504.000 (Bảy triệu năm trăm lẻ bốn ngàn) đồng.
Con bà Võ Thị P3 gồm: bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú phải liên đới nộp 15.004.000 (Mười lăm triệu không trăm lẻ bốn ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000 (Bản triệu năm trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010635 ngày 24/11/2022. Bà Châu Thị H4, bà Châu Thị T2, ông Châu Văn N1, ông Châu Văn Ý, ông Châu Văn Đ1, bà Châu Thị T3, ông Châu Văn Ú nên còn phải liên đới nộp thêm 7.504.000 (Bảy triệu năm trăm lẻ bốn ngàn) đồng.
Con bà Võ Thị H8 gồm: bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 phải liên đới nộp 15.004.000 (Mười lăm triệu không trăm lẻ bốn ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000 (Bản triệu năm trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010633 ngày 24/11/2022. Bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thu N2, bà Nguyễn Thị Thu H5, bà Nguyễn Thị Thu H6 còn phải liên đới nộp thêm 7.504.000 (Bảy triệu năm trăm lẻ bốn ngàn) đồng.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Như Phương |
Bản án số 68/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 68/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản ông Đ với bà L
