Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/DS - ST

Ngày 21/8/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và hủy quyết định cá biệt

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Quế Anh

Bà Bùi Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 21/8/2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 143/2024/TLST-DS ngày 03/6/2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST- DS ngày 23/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967, Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Người được chị L uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đình T3 – Chức vụ: Phó chủ tịch. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H, khởi kiện có nội dung như sau: Hộ gia đình ông Nguyễn Văn D có thửa đất số 271, tờ bản đồ số 6, diện tích 555 m² tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, thửa đất có phía Đông giáp đất ông Nguyễn Thị N. Nguồn gốc thửa đất là do cha mẹ để lại và đã làm GCNQSD đất cho ông D, bà H. Tại thời điểm cấp thửa đất nói trên hộ gia đình ông Nguyễn Văn D có các thành viên, gồm: ông Nguyễn Văn D, là chủ hộ; bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn T1. Quá trình sử dụng đất thì gia đình bà Nguyễn Thị N có lấn chiếm đất của gia đình ông D, bà H 43,2m² về phía Đông tại thửa đất số 271, tờ bản đồ số 6.

Bà Nguyễn Thị N cũng được UBND huyện cấp Giấy CNQSDĐ từ năm 2017, bà N biết sai nhưng không yêu cầu huỷ giấy CNQSDĐ khi đó. Còn gia đình ông D mới được ông T4 là bố ông D đưa giấy CNQSDĐ năm 2021 nên mới biết bà Nguyễn Thị N lấn chiếm đất.

Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H yêu cầu gia đình bà Nguyễn Thị N tháo dỡ các công trình xây dựng để trả lại cho hộ ông Nguyễn Văn D phần đất lấn chiếm là 43,2m² về phía Đông tại thửa đất số 271, tờ bản đồ số 6 cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn D.

Quá trình tranh chấp tại Tòa án, bà N có yêu cầu phản tố về việc hủy GCNQSD đất của hai gia đình thì ông D, bà H không đồng ý. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông D, bà H xác định căn cứ để đòi diện tích đất là GCNQSD đất số CD 526047, do UBND huyện T cấp cho ông D, bà H ngày 16/5/2026 tại thửa số 271 là 555 m², nhưng hiện nay không đủ diện tích; bản đồ trích đo khi làm GCNQSD đất đã được hai gia đình đều ký xác nhận; căn cứ kết quả thẩm định thì phần diện tích đất còn thiếu này hiện nay đang do bà Nguyễn Thị N sử dụng; phần diện tích này nằm ngoài diện tích 497 m² tại thửa 270 được cấp GCNQSD đất cho gia đình bà N. Ông D bà H xác định, ranh giới thực tế giữa hai gia đình khoảng từ năm 1994 là hàng rào xây táp lô và một phần lưng hồi chuồng bò nhà ông D; hàng rào và chuồng bò do nhà ông D xây, mục đích là để chăn nuôi, chứ không phải là hàng rào ranh giới; ông D, bà H không cung cấp được hành vi khác của bà N trong việc lấn chiếm đất.

Bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Vợ chồng bà Nguyễn Thị N có thửa đất số 270, tờ bản đồ số 6, diện tích 497m² tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, thửa đất có phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn D. Chồng bà là Nguyễn Văn N1, sinh năm 1956, chết năm 1988, bà và chồng có các người con gồm: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986, anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1994.

Năm 1990, ông Nguyễn Văn D tự xác định ranh giới và xây bờ rào kiên cố giữa hai gia đình. Gia đình bà N không lấn chiếm đất ông Nguyễn Văn D, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai gia đình bà N và ông D thì bà N không có mặt, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D và bà N là không đo đạc đúng hiện trạng thực tế.

Việc ký giáp ranh là giả mạo, bà tên là Nguyễn Thị N nhưng hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn D hộ giáp ranh ký tên Trần Thị N2 là không đúng thực tế, bà N2 không ký giáp ranh, do đó việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn D là không đúng quy định pháp luật, cấp theo bản đồ địa chính 2008 là không đúng, mà phải cấp theo hiện trạng sử dụng theo bản đồ 299. Gia đình bà Nguyễn Thị N sử dụng thửa đất của gia đình từ trước đến nay theo hiện trạng bản đồ 299 ổn định, gia đình ông D năm 1990 đã tự xây bờ rào xác định ranh giới, nay ông Nguyễn Văn D mới khởi kiện cho rằng bà lấn chiếm đất thì bà mới biết việc cấp giấy CNQSDĐ cho bà và ông D là sai hiện trạng và không đúng trình tự thủ tục.

Bà Nguyễn Thị N không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, bà H, đồng thời có yêu cầu phản tố, yêu cầu huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 526047 do UBND huyện T cấp ngày 16/5/2016 mang tên hộ ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 704872 do UBND huyện T cấp ngày 04/8/2017 mang tên bà Nguyễn Thị N vì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng hiện trạng, bà N không ký giáp ranh hộ liền kề.

Ý kiến của Ủy ban nhân dân xã T:

Hiện nay tại UBND xã không lưu trữ hồ sơ đo đạc hai thửa đất năm 2008; theo hồ sơ cấp GCCNQSD đất thì các hộ đều thực hiện ký giáp ranh nhưng việc do các hộ có trực tiếp ký hay không thì không xác định được bởi thời gian diễn ra khá dài, trải qua nhiều thời kỳ thay đổi cán bộ. Vì vậy để khẳng định được thì phải do cơ quan có chức năng trưng cầu giám định. Tại UBND xã không có hồ sơ liên quan đến hiến đất làm đường của hai gia đình. Qua điều tra xác minh thì có mở đường nhưng trước thời điểm đo đạc địa chính, không rõ diện tích các hộ hiến là bao nhiêu. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện T:

- Hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn D gồm: Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chủ hộ gia đình kê khai, được UBND xã T xác nhận và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thẩm định đủ điều kiện cấp đổi GCNQSD đất; Bản giải trình tăng giảm diện tích xác nhận lý do tăng là do sai số đo đạc giữa bản đồ cũ và bản đồ địa chính mới; ranh giới thửa đất không thay đổi, có xác nhận của cán bộ Địa chính, trưởng xóm và UBND xã T; Hồ sơ kỷ thuật thửa đất thể hiện chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn T4 (bố ông Nguyễn Văn D) có các hộ gia đình ký giáp ranh; Trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện chủ sử dụng ông Nguyễn Văn D; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp GCN (công khai từ ngày 01/12/2015, đến ngày 15/12/2015); Biên bản kết thúc công khai ngày 15/12/2015 thể hiện UBND xã T không nhận được đơn, thắc mắc hay khiếu nại, tranh chấp gì; Giấy xác nhận nguồn gốc, phiếu ý kiến khu dân cư thể hiện nguồn gốc ông Nguyễn Văn D nhận tặng cho từ cha là ông Nguyễn Văn T4; Đơn xác nhận gia đình có một thửa đất trên địa bàn được UBND xã T xác nhận ngày 01/12/2015; Bản đồ 299, sổ mục kê; Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính của hộ gia đình.

- Hồ sơ cấp GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị N gồm: Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chủ hộ gia đình kê khai, được UBND xã T xác nhận và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thẩm định đủ điều kiện cấp đổi GCNQSD đất; Bản giải trình tăng giảm diện tích xác nhận lý do tăng là do sai số đo đạc giữa bản đồ cũ và bản đồ địa chính mới; ranh giới thửa đất không thay đổi, có xác nhận của cán bộ địa chính, trưởng xóm và UBND xã T; Hồ sơ kỹ thuật thửa đất thể hiện chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị N; Trích lục bản đồ địa chính do văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện chủ sử dụng bà Nguyễn Thị N có các hộ liền kề ký giáp ranh; Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp GCN (công khai từ ngày 13/4/2017, đến ngày 28/4/2017); Biên bản kết thúc công khai ngày 28/4/2017 thể hiện UBND xã T không nhận được đơn thắc mắc khiếu nại tranh chấp gì; Phiếu ý kiến khu dân cư thể hiện nguồn gốc do cha ông để lại sử dụng ổn định và liên tục từ trước ngày 18/12/1980; Đơn xác nhận gia đình có một thửa đất trên địa bàn được UBND xã T xác nhận; Bản đồ 299, sổ mục kê; giải trình lý do sai họ tên, tên đệm trong hồ sơ địa chính; Hợp đồng tặng cho được lập giữa ông Nguyễn Trung T2, bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị N; Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính của hộ gia đình.

Quan điểm của UBND huyện T: Hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị N là đúng trình tự, thủ tục theo Điều 4, Quyết định số 27/2015/QĐ-UBND ngày 09/4/2015 của UBND tỉnh N về việc xác định lại diện tích đất ở, gắn với thực hiện đăng ký biến động, cấp đổi, cấp lại GCNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng thửa đất có vườn ao, trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các đương sự giữ nguyên nội dung đã trình bày.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An:

TAND tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là phù hợp với yêu cầu của đương sự. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D và bà H; chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N, hủy 02 GCNQSD đất đã cấp cho hai hộ; Về chi phí tố tụng và án phí: các đương sự phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và ý kiến của các đương sự, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền thụ lý, giải quyết và quan hệ tranh chấp.

Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu bà Nguyễn Thị N trả lại diện tích 43,2 m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bà Nguyễn Thị N có yêu cầu phản tố hủy 02 GCNQSD đất đã được cấp cho 02 gia đình. Thửa đất tranh chấp thuộc xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 9 Điều 26 khoản 4 Điều 34 và Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính, đây là vụ án "Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất", thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H căn cứ vào GCNQSD đất để đòi lại phần thiếu đất. Việc thiếu đất được xác định do sai về nguồn gốc ranh giới. Kết quả thẩm định thể hiện phần diện tích 43,2 m² còn thiếu mà ông D, bà H khởi kiện là phần tiếp giáp với thửa đất của bà Nguyễn Thị N, đang do gia đình bà Nguyễn Thị N quản lý, sử dụng. Các đương sự thống nhất nguồn gốc hai thửa đất của hai gia đình được sử dụng từ lâu đời; thủ tục cấp GCNQSD đất cho hai hộ đúng về chủ thể được cấp GCQNSD đất, không có khiếu nại về chủ thể.

[2.2] Về ranh giới thực tế sử dụng của hai gia đình: được ngăn cách từ năm 1990 (theo trình bày của bà N), 1994 (theo trình bày của ông D, bà H); hàng rào được tạo lập bởi gia đình ông D; hai gia đình sử dụng ổn định thực tế trong phần đất (có tạo lập hàng rào ngăn cách hai thửa đất) của mình.

Diện tích, ranh giới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai hộ gia đình được căn cứ vào bản đồ trích đo năm 2008, có chữ ký giáp ranh của các chủ hộ. Thửa đất 271 của hộ ông D 555 m² (theo bản đồ 299 là 500 m²); thửa đất 270 của hộ bà N là 497 m² (theo bản đồ 299 là 450 m²).

Căn cứ vào việc sử dụng đất của các hộ (hàng rào ngăn cách được tạo lập từ năm 1991 - 1994); các đương sự không xác định được ranh giới, mốc giới cụ thể nào khác ngoài hàng rào xây từ (1991 – 1994); việc đo đạc năm 2008 không xác định đúng ranh, mốc giới thực tế; ranh mốc giới trên bản đồ đo đạc có sự khác biệt so với hiện trạng sử dụng tại thời điểm đo (năm 2008) nhưng không có sự thỏa thuận của các bên. Trên phần đất tranh chấp có các công trình bà N xây dựng vào năm 2020, nhưng không ai có ý kiến gì. Chứng tỏ các bên không có sự tranh chấp trong thực tế sử dụng.

Căn cứ trình bày của ông Nguyễn Tài T5, nguyên Trưởng thôn L: Khi cấp GCNQSD đất cho hai hộ, số liệu được lấy từ trích đo bản đồ địa chính năm 2008; không xuống kiểm tra hiện trạng hộ gia đình. Việc ký giáp ranh, hộ liền kề thì giao cho hộ gia đình đưa về xóm ký. Theo ông T5 thì bà N không ký giáp ranh, lý do bà N là Nguyễn Thị N, không phải Trần Thị N2 (như tại hồ sơ) và so sánh chữ ký của bà Nguyễn Thị N trong hồ sơ cấp GCQQSD đất là không giống nhau. Ông T5 xác định, ranh giới hàng rào hai gia đình xây dựng kiên cố từ năm 1994. Năm 2020, bà N xây nhà (khi đó ông T4 còn sống) hai bên không có tranh chấp gì.

Căn cứ trình bày của bà Nguyễn Thị Đ, nguyên cán bộ địa chính xã T thời điểm 2015 – 2018. Việc cấp GCNQSD đất cho hai hộ gia đình được lấy số trích đo năm 2008; không xuống kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của các hộ. Việc ký giáp ranh, hộ liền kề thì giao cho hộ gia đình đưa về xóm ký. Việc bà N có ký giáp ranh vào hồ sơ cấp GCNQSD đất cho hộ ông D không thì bà Đ không biết.

Vì vậy, việc đo đạc năm 2008 có sự sai sót, không đúng với thực tế sử dụng của hai hộ gia đình; khi cấp GCNQSD đất không kiểm tra hiện trạng mà lấy từ số liệu trích đo 2008 dẫn đến việc cấp GCNQSD đất cho hai hộ không đúng hiện trạng.

[2.3] Về chữ ký giáp ranh Trần Thị N2, Nguyễn Thị N tại hồ sơ cấp GCNQSD đất cho các hộ. Các bên không thống nhất xác định có phải là của bà Nguyễn Thị N hay không. Hội đồng xét xử xét thấy: GCNQSD đất số CD 704872 do UBND huyện T cấp cho bà Nguyễn Thị N ngày 04/8/2017, tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số 06, diện tích 497 m² được căn cứ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Trung T2 cho bà Nguyễn Thị N. Tại các hợp đồng này xác định diện tích tặng cho là 497 m², các hợp đồng này bà N xác định chữ ký của bà; các tài liệu trích đo kèm theo đều xác định diện tích 497 m²; đơn giải trình tăng (giảm) diện tích xác định phần tăng thêm là 47 m²; do đó có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị N xác định phần diện tích đất của mình là 497 m². Các nội dung bà N trình bày không biết việc lập hồ sơ cấp GCNQSD đất cho gia đình mình là không có căn cứ.

Tuy nhiên, như đã phân tích trên, hai hộ gia đình sống ổn định trong phần đất của mình có hàng rào ngăn cách; hiện tại không có ranh giới, mốc giới nào khác, các đương sự cũng không cung cấp được ranh giới, mốc giới nào khác ngoài hàng rào xây từ năm (1991 – 1994). Việc đo đạc sai sót so với thực tế nhưng không được xác định. Đến tận thời điểm năm 2021, các đương sự hoàn toàn không biết việc diện tích, ranh giới được cấp GCNQSD đất khác biệt so với thực tế mà xác định với nhau ranh giới là hàng rào xây từ năm (1991 – 1994), cho nên vẫn sử dụng ổn định, tạo lập các tài sản trên đất.

Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại diện tích 43,2 m²; đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 526047 do UBND huyện T cấp ngày 16/5/2016 mang tên hộ ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 704872 do UBND huyện T cấp ngày 04/8/2017 mang tên bà Nguyễn Thị N. Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hai hộ trước đây đã được cấp đổi, cơ quan đã thực hiện thu hồi theo quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Án phí và chi phí tố tụng.

[3.1]. Án phí: Yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí. Yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí sơ thẩm.

[3.2]. Chi phí tố tụng. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu chi phí thẩm định, định giá. Số tiền chi phí tố tụng 4.790.334 đồng, nguyên đơn đã nộp xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34 và điểm a, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 164; Điều 165, Điều 166, Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 106, 166, 203 Luật đất đai 2013, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H về việc buộc bà Nguyễn Thị N phải trả lại quyền sử dụng đất 43,2 m² tại thửa đất số 271 tờ bản đồ số 06 tại thôn L, xã T, huyện T tỉnh Nghệ An.

[3] Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị N:

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CÐ 526047 do UBND huyện T cấp ngày 16/5/2016 mang tên hộ ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H tại thửa đất số 271 tờ bản đồ số 06 tại thôn L, xã T, huyện T tỉnh Nghệ An.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CĐ 704872 do UBND huyện T cấp ngày 04/8/2017 tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số 06, thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

[4]. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H phải chịu 4.790.334 đồng tiền chi phí thẩm định, định giá (đã thực hiện xong).

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai số 0011653 ngày 31/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương.

[6]. Các đương sự quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội như sau:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Chương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/DS - ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 68/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger