Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/DS-ST

Ngày 15-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,

hợp đồng thế chấp tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Ngô Việt Thanh.
  2. Bà Cao Thị Loan.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Đoan Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 491/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4.

Địa chỉ: số A, đường T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh T7, theo Giấy ủy quyền số 845/UQ-VCB-PC ngày 20/10/2021.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Nguyễn Hùng Q, chức vụ: Cán bộ kiểm tra nội bộ chi nhánh (có mặt).

Địa chỉ: số A, đường Đ, Phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy ủy quyền số 02/UQ-TGI-HCNS ngày 22/01/2024.

- Bị đơn:

1. Ông Phan Văn N, sinh năm 1966 (vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1987 (vắng mặt).
  2. Ông Phan Văn P, sinh năm 1991 (vắng mặt).
  3. Ông Phan Minh T1, sinh năm 1993 (vắng mặt).
  4. Ông Phan Minh S, sinh năm 1996 (vắng mặt).
  5. Nguyễn Thị Diễm T2, sinh năm 1988 (vắng mặt).
  6. Phan Thị Kiều D1, sinh năm 2002 (vắng mặt).
  7. Nguyễn Thị Kiều T3, sinh năm 1995 (vắng mặt).
  8. Cháu Phan Kiều Diễm M, sinh năm 2009.
  9. Cháu Phan Nguyễn Trọng N1, sinh năm 2015.
  10. Cháu Nguyễn Thị Kiều N2, sinh năm 2015.
  11. Cháu Phan Nguyễn Bảo T4, sinh năm 2017.
  12. Cháu Phan Nguyễn Tuệ N3, sinh năm 2019.
  13. Cháu Phan Nguyễn Bảo T5, sinh năm 2022.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 là ông Nguyễn Hùng Q trình bày:

Ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H đã ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Phòng G, cụ thể như sau:

Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017. Số tiền vay 150.000.000 đồng, dư nự gốc hiện tại 84.693.700 đồng, mục đích vay là sữa chửa nhà ở. Thời hạn vay là 120 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Kỳ trả nợ gốc vào ngày 05 tháng 06 và ngày 05 tháng 12 hàng năm. Kỳ trả lãi theo kỳ trả gốc. Lãi suất cho vay áp dụng lãi suất cho vay mục đích tiêu dùng loại trung, dài hạn theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh T7 tại thời điểm nhận nợ và được ghi trên từng giấy nhận nợ. Lãi suất cho vay này được điều chỉnh theo thông báo lãi cho vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh T7.

Ông N, bà H đã rút vốn theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 06/6/2017, số tiền

2

150.000.000 đồng, nội dung thanh toán tiền mua vật tư xây nhà ở.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông N, bà H đã thanh toán cho Ngân hàng 82.046.785 đồng. Tính đến ngày 12/5/2023 tổng dư nợ của ông N, bà H theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017 là 76.332.781 đồng, trong đó nợ gốc là 67.953.215 đồng (nợ gốc quá hạn là 453.215 đồng), nợ lãi là 8.339.440 đồng (nợ lãi quá hạn là 4.447.379 đồng), lãi chậm trả lãi là 40.126 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0135/NHNT-TDC/TC17 ngày 30/5/2017 giữa Ngân hàng với ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H, ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn P, ông Phan Minh T1, ông Phan Minh S, bà Nguyễn Thị Diễm T2 gồm:

  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 565, tờ bản đồ 07, diện tích 800,2m², tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321549, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01906 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 632, tờ bản đồ 07, diện tích 4.140,4m², tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321565, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01907 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.

Ông N, bà H đến hạn trả nợ gốc, lãi khoản vay tại Ngân hàng vào ngày 05/12/2022 (nợ gốc đến hạn 453.215 đồng, nợ lãi đến hạn 4.447.379 đồng) và bắt đầu phát sinh nợ quá hạn từ ngày 06/12/2022. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo khách hàng thanh toán dứt điểm nợ quá hạn nhưng ông N, bà H không thực hiện.

Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 yêu cầu ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị Kim H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 15/5/2024 là 84.693.700 đồng, trong đó nợ gốc là 67.953.215 đồng, nợ lãi trong hạn 3.204.600 đồng, nợ lãi quá hạn là 12.896.597 đồng, lãi chậm trả là 639.298 đồng và toàn bộ khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ sau ngày 15/5/2024 cho đến khi ông N, bà H thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017.

Trường hợp ông N, bà H không thanh toán dứt số tiền 84.693.700 đồng và toàn bộ các khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ sau ngày 15/5/2024 cho đến khi trả hết nợ thì Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng gồm:

  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 565, tờ bản đồ 07, diện tích 800,2m², tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321549, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01906 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 632, tờ bản đồ 07, diện tích 4.140,4m², tại

3

ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321565, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01907 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập cho bị đơn ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn P, ông Phan Minh T1, ông Phan Minh S, bà Nguyễn Thị Diễm T2, bà Phan Thị Kiều D1, bà Nguyễn Thị Kiều T3 nhưng ông N, bà H, ông Đ, ông P, ông T1, ông S, bà T2, bà D1, bà T3 không có văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn P, ông Phan Minh T1, ông Phan Minh S, bà Nguyễn Thị Diễm T2, bà Phan Thị Kiều D1, bà Nguyễn Thị Kiều T3 vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 yêu cầu ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 15/5/2024 là 84.693.700 đồng. Trường hợp ông N, bà H không thanh toán dứt số tiền 84.693.700 đồng và toàn bộ các khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ sau ngày 15/5/2024 cho đến khi trả hết nợ thì Ngân hàng đề nghị xử lý các tài sản thế chấp. Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì khác. Hội

4

đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại khoản 11.2 Điều 11 của Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD được ký kết vào ngày 30/5/2017 Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 và ông N, bà H đã thỏa thuận Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nơi Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh T7 có trụ sở tại thời điểm nộp đơn khởi kiện. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn P, ông Phan Minh T1, ông Phan Minh S, bà Nguyễn Thị Diễm T2, bà Phan Thị Kiều D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 yêu cầu ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 15/5/2024 là 84.693.700 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 30/5/2017 Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 và ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H đã ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD. Số tiền vay là 150.000.000 đồng. Mục đích vay là sữa chửa nhà ở. Thời hạn vay là 120 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Kỳ trả nợ gốc vào ngày 05 tháng 06 và ngày 05 tháng 12 hàng năm. Kỳ trả lãi theo kỳ trả gốc. Lãi suất cho vay áp dụng lãi suất cho vay mục đích tiêu dùng loại trung, dài hạn theo thóng báo lãi suất cho vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh T7 tại thời điểm nhận nợ và được ghi trên từng giấy nhận nợ (bút lục 110 - 115).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 và ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H đã tự nguyện thoả thuận ký kết hợp đồng theo hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại Điều 385, 401 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 14 và khoản 16 Điều 4, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 đã giải ngân tiền vay cho ông Phan Văn N, bà

5

Nguyễn Thị H theo Giấy nhận nợ số 01 kèm Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017 (bút lục 110). Do đó, Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017 phát sinh hiệu lực đối với các bên.

Tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017 các bên đã tự nguyện thỏa thuận cụ thể về lãi suất cho vay, phương pháp tính lãi, cơ chế điều chỉnh lãi suất. Thỏa thuận này hoàn toàn phù hợp với quy định về lãi suất cho vay tại Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N5 quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 7, khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Đối chiếu với Xác nhận tình hình nợ vay ngày 15/5/2024 của ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H thì thấy mức lãi suất của khoản vay đã được điều chỉnh phù hợp với với thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng và không vượt quá quy định của pháp luật về lãi suất cho vay.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận tại điểm 8.4 Điều 8 Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc nhưng đến nay ông N, bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 yêu cầu ông N, bà H thanh toán toàn bộ số tiền tính đến hết ngày 15/5/2024 là 84.693.700 đồng, trong đó dư nợ gốc là 67.953.215 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.204.600 đồng, nợ lãi quá hạn là 12.896.587 đồng, lãi chậm trả lãi là 639.298 đồng và toàn bộ khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh kể từ sau ngày 15/5/2024 cho đến khi ông N, bà H thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng là có căn cứ là phù hợp quy định pháp luật.

[2.2] Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0135/NHNT-TDC/TC17 ngày 30/5/2017, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 và hộ ông Phan Văn N với các thành viên trên 18 tuổi tại thời điểm ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0135/NHNT-TDC/TC17 ngày 30/5/2017 là ông Phan Văn N (chủ hộ), bà Nguyễn Thị H, ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn P, ông Phan Minh T1, ông Phan Minh S, bà Nguyễn Thị Diễm T2 đã tự nguyện thỏa thuận thế chấp tài sản gồm:

  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 565, tờ bản đồ 07, diện tích 800,2m², tại

6

ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321549, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01906 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.

  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 632, tờ bản đồ 07, diện tích 4.140,4m², tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321565, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01907 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.

Hợp đồng thế chấp tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm, đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Tại Điều 4 Phần I Hợp đồng thế chấp, các bên đã thỏa thuận các trường hợp xử lý tài sản thế chấp, trong đó có trường hợp: “4.1 Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm khi xảy ra ít nhất một sự kiện vi phạm và/hoặc theo quy định của pháp luật...”. Theo khoản 5, 6 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ bên thế chấp: “giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản đảm bảo theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật này”. Do đó, trường hợp ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157 Bộ luật dân sự 2015.

[4] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 4.235.000 đồng.

[5] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

7

Căn cứ vào Điều 320, Điều 385, Điều 401, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4.

1.1 Buộc ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H phải trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 số tiền vay còn nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017 là 84.693.700 đồng (Tám mươi bốn triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm đồng), trong đó gồm:

  • Nợ gốc: 67.953.215 đồng (Sáu mươi bảy triệu chín trăm năm mươi ba nghìn hai trăm mười lăm đồng).
  • Nợ lãi trong hạn: 3.204.600 đồng (Ba triệu hai trăm lẽ bốn nghìn sáu trăm đồng).
  • Nợ lãi quá hạn: 12.896.587 đồng (Mười hai triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm tám mươi bảy đồng).
  • Lãi phạt chậm trả lãi: 639.298 đồng (Sáu trăm ba mươi chín nghìn hai trăm chín mươi tám đồng).

Kể từ sau ngày 15/5/2024 ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục trả lãi đối với số tiền nợ chưa trả theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0268/VCB-CL/17/CD ngày 30/5/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 thì lãi suất mà ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4.

1.2 Trường hợp ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H không thực hiện hoặc

8

thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp gồm:

  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 565, tờ bản đồ 07, diện tích 800,2m², tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321549, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01906 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.
  • Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 632, tờ bản đồ 07, diện tích 4.140,4m², tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 321565, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01907 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/8/2008 cho hộ ông Phan Văn N.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

3. Về án phí:

Ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 4.235.000 đồng (Bốn triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.910.000 đồng (Một triệu chín trăm mười nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005555 ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phan Văn N, bà Nguyễn Thị H, ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn P, ông Phan Minh T1, ông Phan Minh S, bà Nguyễn Thị Diễm T2, bà Phan Thị Kiều D1, bà Nguyễn Thị Kiều T3, cháu Phan Kiều Diễm M, cháu Phan Nguyễn Trọng N1, cháu Nguyễn Thị Kiều N2, cháu Phan Nguyễn Bảo T4, cháu Phan Nguyễn Tuệ N3, cháu Phan Nguyễn Bảo T5 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

9

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP. Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP. Mỹ Tho;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 68/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger