Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/DS-PT

Ngày 12 - 12 - 2024

V/v tranh chấp ngõ đi chung và

tháo dỡ công trình trên đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Nga

Ông Hoàng Hữu Tăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thúy Hằng, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Nguyễn Thanh Hà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 05 và 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp ngõ đi và tháo dỡ công trình trên ngõ”.

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1971; Địa chỉ: Xóm T, thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1961; Địa chỉ: Xóm T, thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T - Chủ tịch; “vắng mặt”

2. Bà Lưu Thị M, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm T, thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”

- Người làm chứng:

1. Ông Đỗ Văn B, sinh năm 1973; “vắng mặt”

2. Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1965; “vắng mặt”

Đều địa chỉ: Xóm T, thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01 tháng 8 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đỗ Văn L trình bày: Bố mẹ ông là cụ Đỗ Văn P, đã chết và cụ Nguyễn Thị G được cha ông để lại một thửa đất, theo bản đồ 299 là thửa 478 diện tích 219m². Hướng Đông Bắc thửa đất số 478 có khoảng 03m² liền kề với ngõ đi chung, vị trí đất này bố mẹ ông làm bếp, chuồng trâu và cũng đã mở cổng để đi ngõ này. Còn ngõ đi chính thì đi theo ngõ nhà ông Đỗ Văn H và Đỗ Văn H1.

Năm 1991 bố mẹ ông tách cho anh Đỗ Văn S phần đất có ngôi nhà 05 gian để vợ chồng anh S ăn ở riêng, bố mẹ ông giữ lại phần đất có bếp, chuồng trâu. Theo bản đồ năm 1992 thì bố ông đứng tên thửa 89 diện tích 82m² có ngõ đi chung với ngõ vào thửa đất nhà Quý B1, Sáu N, nhà ông Nguyễn Văn L1, còn ông Đỗ Văn S đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 88 diện tích 114m², ngõ đi thửa đất của ông S đi cùng ngõ nhà ông H1, ông H, ông bà P, ông bà Đô V.

Sau khi tách đất thì bố ông xây nhà ba gian trên đất, chỉ có ông cùng mẹ và chị gái sinh sống, còn bố ông sinh sống ở Hà Nội. Sau một thời gian thì chị gái và mẹ ông ra Hà Nội sinh sống, ông lấy vợ không sinh sống ở nhà đất này mà ra Cầu T thuê nhà để thuận tiện việc làm ăn buôn bán, nhà đất ở thửa 89 anh em ông ít đi lại. Vào khoảng năm 2001 mẹ ông có về sửa nhà để tổ chức lễ cưới cho em gái ông, khi sửa nhà có xây cầu bằng gạch từ ngõ chung vào sân để đi xe qua lại cho dễ, xây chìa một phần viên gạch ra ngõ đi chung, nên đã phát sinh cãi nhau với nhà ông Nguyễn Văn L1. Sau khi tổ chức lễ cưới cho em gái ông xong thì nhà đất bố mẹ ông để trống, mẹ ông ra Hà Nội sinh sống với bố ông, nên gia đình ông Nguyễn Văn L1 đã lợi dụng việc này xây trụ cổng và làm cánh cổng ra ngõ đi chung, cản trở việc đi lại của gia đình ông.

Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết phần đất từ đầu thửa đất 66 nhà ông Nguyễn Văn L1 đến vị trí trụ cổng hiện tại của nhà ông L1 là ngõ đi chung, không phải ngõ riêng nhà ông Nguyễn Văn L1, buộc ông Nguyễn Văn L1 phải phá bỏ hai trụ cổng, cánh cổng đã làm ra ngõ đi chung, gia đình ông được sử dụng ngõ đi chung này, không được ai ngăn cấm, cản trở.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Văn L1 và bà Lưu Thị M đến làm việc, đến ngày 27/7/2023 vợ chồng ông bà mới đến làm việc với Tòa án và trình bày không tự viết được, đề nghị Tòa án ghi lại lời khai cho vợ chồng ông bà, khi Tòa án lập xong biên bản lời khai ông bà đã tự đọc, Thẩm phán và thư ký đã sửa theo ý kiến của ông bà, nhưng ông bà không ký, nội dung lời khai của ông L1 bà M thể hiện: Thửa đất số 66 diện tích 251m² mà hiện nay vợ chồng ông bà đang sinh sống do cha ông để lại. Từ thời bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn C và cụ Nguyễn Thị S1 thì ngõ đi vòng qua nhà ông Nguyễn Văn B2 và Nguyễn Trần V1 rồi mới đi được ra đường của thôn, chỉ có bố mẹ ông và nhà ông Nguyễn Văn B3 người trong nội tộc cùng đi ngõ này. Vào năm nào vợ chồng ông không nhớ, bố ông có đổi đất cho nhà cụ Nguyễn Đình T1, để ngõ đi thẳng như hiện nay, khi đổi còn phải các thêm gạch và tiền để nhà ông T1 xây tường rào và cụ T1 có yêu cầu cho hai con cụ T1 đi cùng ngõ mới này.

Thửa 64 diện tích 87m² của cụ Đỗ Văn P và Nguyễn Thị G là bố mẹ đẻ của ông Đỗ Văn L và Đỗ Văn S có ngõ đi theo ngõ nhà ông Đỗ Văn H và Đỗ Văn H1. Thửa 64 có phần đất làm chuồng trâu, bò giáp với ngõ nhà ông bà, khi bố mẹ ông bà còn sống có cho cụ P và các con đi nhờ ngõ, đi từ phía chuồng trâu đi ra, bố mẹ ông bà cho đi nhờ từ rất lâu, ông bà không nhớ rõ thời gian, đến trước năm 2000 con cụ P xây bậc dắt xe máy, xây ra ngõ nên phát sinh mâu thuẫn với bố mẹ ông, sau đó bố mẹ ông xây trụ cổng và làm cánh cổng ở ngõ làm ngoài vị trí chuồng trâu, bò, nhà ông khi ra vào khóa cổng không cho nhà cụ G và các con đi nhờ ngõ nữa. Quan điểm của vợ chồng ông bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị trấn Y trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 64, tờ bản đồ 24 diện tích 87m² do ông Đỗ Văn L đứng tên là của cụ Đỗ Văn P và cụ Nguyễn Thị G (là bố, mẹ đẻ ông L).

Theo bản đồ 299, cụ Đỗ Văn P đứng tên quyền sử dụng thửa 478 diện tích 219m². Thửa 478 có hai ngõ đi, một ngõ đi cùng thửa 477, một ngõ đi cùng thửa 495. Quá trình sử dụng, cụ P đã tách cho con trai là ông Đỗ Văn S một phần diện tích. Nên theo bản đồ lập năm 1992 tờ số 05, cụ Đỗ Văn P đứng tên quyền sử dụng thửa 89 diện tích 82m², ông Đỗ Văn S đứng tên quyền sử dụng thửa 88 diện tích 114m², ngõ đi vào hai thửa riêng biệt. Theo bản đồ lập năm 2005 chỉnh lý năm 2015, cụ Đỗ Văn P đứng tên quyền sử dụng thửa 64 diện tích 87m², ngõ đi vào thửa đất này đi chung với các thửa 66, 7, 3. Ngày 10/06/2015 cụ Đỗ Văn P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 64, tờ bản đồ 24 diện tích 87m². Theo hình thể thửa 64 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có ngõ đi ở phía bắc của thửa đất. Năm 2022. Cụ G tặng cho con trai là ông Đỗ Văn L ½ thửa đất số 64, những người thừa kế của cụ Đỗ Văn P, nhượng cho ông Đỗ Văn L hưởng toàn bộ phần của cụ P ở thửa 64, ngày 21/9/2022 ông Đỗ Văn L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 64.

Nguồn gốc thửa 66 diện tích 251m² do ông Nguyễn Văn L1 đứng tên quyền sử dụng là đất nhà thờ họ Nguyễn. Theo bản đồ 299 tờ số 02, thửa 477 diện tích 250m², sổ

mục kê bản đồ ghi chủ sử dụng là Nhà thờ Hậu L2 cụ Nguyễn Lý L3 (Ông Nguyễn Văn C1 là trưởng tộc). Ngõ đi vào thửa 477 chung với các thửa khác trong đó có thửa 478 của cụ Đỗ Văn P, hình thể ngõ đi trên bản đồ 299 là đường thẳng. Theo bản đồ năm 1992, tờ bản đồ số 05, thửa 87 diện tích 241m² do ông Nguyễn Văn L1 đứng tên quyền sử dụng. Trên bản đồ năm 1992 thể hiện ngõ đi của thửa 87 chung với các thửa khác trong đó có thửa 89 của cụ Đỗ Văn P. Tại bản đồ năm 2005 chỉnh lý năm 2015, tờ số 24 thể hiện, ông Nguyễn Văn L1 đứng tên quyền sử dụng thửa 66 diện tích 251m², ngõ đi của thửa 66 chung với các thửa khác, trong đó có thửa 64 của cụ Đỗ Văn P. Quan điểm của địa phương ngõ đi là đất công, không thuộc quyền sử dụng riêng của hộ gia đình nào.

Người làm chứng ông Đỗ Văn B con trai cụ Đỗ Văn P và cụ Nguyễn Thị G trình bày: Gia đình bố mẹ ông sinh sống trên thửa đất số 478 diện tích 219m² nguồn gốc đất do cha ông để lại. Thửa đất của bố mẹ ông có hai ngõ đi, tmột ngõ đi chung với nhà thờ họ N1, một ngõ đi chung với nhà ông H1, ông H, ông Đ. Trên đất bố mẹ ông có ngôi nhà 05 gian tiếp theo nhà bếp, chuồng trâu, cổng, phần đất có bếp, chuồng trâu liền kề với ngõ đi vào đất nhà thờ họ Nguyễn, bố mẹ ông đã mở cổng để đi ngõ này. Năm 1991 bố mẹ ông tách cho anh Đỗ Văn S một phần đất có ngôi nhà 05 gian để anh S ăn ở riêng, bố mẹ ông giữ lại phần đất có bếp, chuồng trâu. Sau khi tách bố ông xây ngôi nhà ba gian trên đất để cho mẹ và anh em ông ở, đến năm 1993 ông ra ở riêng, mẹ và chị ông ra Hà Nội sinh sống với bố, ông L1 lấy vợ đi thuê nhà ở riêng thuận tiện công việc, do vậy nhà của bố mẹ ông để trống. Năm 2015 bố ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 64 với diện tích 87m², đầu năm 2021 bố ông mất, mẹ và anh em ông đã làm thủ tục cho ông Đỗ Văn L hưởng toàn bộ thửa 64, tháng 9 năm 2022 ông Đỗ Văn L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn L.

Ông Đỗ Văn S con trai cụ Đỗ Văn P và cụ Nguyễn Thị G trình bày: Năm 1991 bố mẹ ông tách cho ông một phần đất có ngôi nhà 05 gian, bố mẹ ông giữ lại phần đất có bếp, chuồng trâu. Tại bản đồ năm 1992 bố ông đứng tên thửa 89 diện tích 82m² ngõ đi vào thửa đất của bố ông đi chung với ngõ vào thửa đất nhà Quý B1, Sáu N, nhà ông Nguyễn Văn L1, còn ông đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 88 diện tích 114m², ngõ đi thửa đất của ông đi cùng ngõ nhà ông H1, H, Phúc L4, Đô V. Ngõ đi thửa đất của ông và bố ông riêng biệt. Sau khi tách đất thì bố ông xây ngôi nhà ba gian để mẹ và các em ông sinh sống, bố ông sinh sống ở Hà Nội, sau một thời gian thì chị gái và mẹ ông ra Hà Nội sinh sống, ông Đỗ Văn L lấy vợ không sinh sống ở nhà đất này, nên nhà để không, anh em ông ít khi qua lại. Ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn L, buộc nhà ông Nguyễn Văn L1 phải dỡ bỏ trụ cổng, cánh cổng xây ra ngõ đi chung, không ai được ngăn cấm, cản trở ông L1 cùng anh em nhà ông sử dụng ngõ đi này.

Kết quả xác minh thể hiện: Theo bản đồ 299, tờ bản đồ số 02 thửa 477 diện tích 250m², sổ mục kê bản đồ ghi chủ sử dụng là Nhà thờ Hậu L2 cụ Nguyễn Lý L3 (Ông Nguyễn Văn C1 là trưởng tộc), đây chính là thửa đất gia đình ông Nguyễn Văn L1 đang sinh sống, diện tích 250m² không bao gồm diện tích đất ngõ đi. Thửa 478 diện tích 219m², số mục kê của bản đồ do cụ Đỗ Văn P đứng tên quyền sử dụng (cụ P là bố đẻ ông Đỗ Văn L).

Theo bản đồ lập năm 1992, tờ bản đồ số 05 thể hiện: Thửa 87 diện tích 241m² do ông Nguyễn Văn L1 đứng tên quyền sử dụng. Thửa 89 diện tích 82m² do cụ Đỗ Văn P đứng tên quyền sử dụng. Thửa 88 diện tích 114m² do ông Đỗ Văn S (con trai cụ P) đứng tên quyền sử dụng Thửa 88 và 89 được tách ra từ thửa 478 của bản đồ 299. Trên bản đồ năm 1992 thể hiện ngõ đi của thửa 88 và 89 riêng biệt, trong đó ngõ đi vào thửa 88 đi chung với ngõ đi của thửa 164, còn ngõ đi của thửa 89 đi chung với ngõ đi của thửa 87, 91, 90, 92, 94 đất ngõ đi của các thửa này là đất công, không thuộc đất của riêng thửa nào.

Tại bản đồ lập năm 2005 và chỉnh lý năm 2015, tờ bản đồ số 24 thể hiện: Thửa 66 diện tích 251m² do ông Nguyễn Văn L1 đứng tên quyền sử dụng, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa 65 diện tích 115m² do ông Đỗ Văn S đứng tên quyền sử dụng, ngõ đi cùng với ngõ đi thửa 70 do ông Đỗ Văn H2, thửa 72 do ông Đỗ Văn Đ1 đứng tên. Thửa 64 diện tích 87m² do cụ Đỗ Văn P đứng tên quyền sử dụng, ngõ đi cùng với ngõ đi của thửa 66, 63, 7. Đất ngõ đi vào các thửa này là đất công. Tại phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 04/4/2014 xác định: thửa 66 nhà ông Nguyễn Văn L1 có diện tích 251m², hình thể thửa đất, liền kề với đường xóm; thửa 65 nhà ông Đỗ Văn S có diện tích 115m², hình thể thửa đất, liền kề với đường xóm (đất đường xóm là đất công, nằm ngoài diện tích đất nhà ông Đỗ Văn S) và thửa 64 nhà cụ Đỗ Văn P có diện tích 87m², hình thể thửa đất, liền kề với đường xóm (đất đường xóm là đất công, nằm ngoài diện tích đất nhà cụ Đỗ Văn P). Trên các bản đồ từ 299 đến bản đồ Vilap năm 2015, vị trí, hình thể ngõ đi vào thửa 477 ở bản đồ 299, thửa 66 ở bản đồ 215 giữ nguyên không thay đổi, là ngõ đi thẳng.

Ngày 10/6/2015 cụ Đỗ Văn P và cụ Nguyễn Thị G đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 64 tờ bản đồ 24 diện tích 87m², hình thể thửa đất có ngõ đi là đường bê tông ở phía Bắc của thửa đất.

Ngày 18/06/2022 cụ Nguyễn Thị G lập hợp đồng tặng cho ông Đỗ Văn L ½ thửa đất 64, các anh chị em ông Lâm nhường cho ông L hưởng thừa kế phần của cụ P, ngày 21/9/2022 ông Đỗ Văn L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 64 tờ bản đồ 24 diện tích 87m², có ngõ đi ở phía Bắc thửa đất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST, ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

  1. Căn cứ vào: Khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 163, Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự. Điều 203 của Luật Đất đai; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn L. Xác định phần đất có diện tích 10,6m² là ngõ đi chung, có tứ cận phía Tây Nam kích thước 1,42m, phía T kích thước 7,33m, phía Đông Bắc kích thước 1,41m, phía Đông Nam kích thước 7,36m. (có sơ đồ kèm theo)
  3. Buộc ông Nguyễn Văn L1 phải tự tháo dỡ, trụ cổng, cánh cổng đã làm ở ngõ đi chung, ông Nguyễn Văn L1 và mọi người không được ngăn cấm, cản trở gia đình ông Đỗ Văn L và những người khác sử dụng ngõ đi chung này.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, về chi phí tố tụng khác, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023 ông Nguyễn Văn L1 kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Tại phiên tòa: Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn trình bày theo bản đồ đo đạc năm 1982 lối đi là đường thẳng đi vào thửa đất của gia đình không liên quan đến các thửa đất khác. Đất của gia đình nguyên đơn có lối đi ở hướng khác gia đình cho bố mẹ nguyên đơn đi nhờ nhưng lại xây ra lối đi cản trở việc đi lại nên đã làm cổng để sử dụng riêng do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Nguyên đơn trình bày gia đình đã sử dụng ngõ để đi lại từ khi bố mẹ còn sống. Trong thời gian gia đình không có người sống trên thửa đất bị đơn đã tự làm cổng trên ngõ để sử dụng riêng nên giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đã có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Ngày 25 tháng 12 năm 2023, cấp sơ thẩm đã ra Thông báo về việc kháng cáo nhưng ngày 17 tháng 10 năm 2024 mới gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm là vi phạm Điều 283 Bộ luật Tố tụng dân sự cần nghiêm tục kiểm điểm rút kinh nghiệm.
  3. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Đỗ Văn L đề nghị Tòa án giải quyết xác định ngõ là lối đi chung và buộc gia đình ông Nguyễn Văn L1 phá trụ cổng và cánh cổng đã làm ra ngõ để gia đình được sử dụng ngõ đi này ra đường xóm, ông Nguyễn Văn L1 xác định là ngõ của gia đình ông, không phải ngõ đi chung, không nhất trí cho nhà ông Đỗ Văn L sử dụng ngõ đi do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp lối đi chung và tháo dỡ công trình trên lối đi chung”.
  4. Bị đơn ông Nguyễn Văn L1 xác định ngõ đi là do gia đình đổi đất với gia đình cụ Nguyễn Đình T1 và cho gia đình cụ Đỗ Văn P, Nguyễn Thị G đi nhờ nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh nên theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử theo chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
  5. Ông Nguyễn Văn L1 xác định ngõ đi là của gia đình vì theo bản đồ 299 thể hiện ngõ đi là đường thẳng đi vào đất của gia đình, không có ranh giới giữa ngõ đi với đất ở nhưng theo hồ sơ địa chính nguồn gốc đất gia đình ông kê khai đăng ký quyền sử dụng là Nhà thờ Hậu Làng theo bản đồ lập năm 1992 diện tích 241m² và bản đồ lập năm 2005, chỉnh lý năm 2015 diện tích 251m² đều thể hiện vị trí thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn L1 liền kề với đường xóm phù hợp thừa nhận của ông về việc cụ P và cụ G đã sử dụng ngõ làm lối đi nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của ông Nguyễn Văn L1 xác định diện tích ngõ đi thuộc đất của gia đình ông.
  6. Xét thực tế hồ sơ địa chính theo bản đồ 299, bản đồ đo năm 1995 và bản đồ đo năm 2005 chỉnh lý năm 2015 đều thể hiện thửa đất của gia đình ông Đỗ Văn L và gia đình ông Nguyễn Văn L1 giáp với ngõ đi và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình ông Đỗ Văn L thể hiện lối đi là ngõ đang tranh chấp và cung cấp của Ủy ban nhân dân thị trấn Y ngõ đi là đất công. Thực tế khi địa phương thống kê đo đạc hiện trạng sử dụng đất lập bản đồ địa chính thì gia đình ông Nguyễn Văn L1 đều không kê khai đăng ký đối với diện tích đất là ngõ đi do đó cấp sơ thẩm xác định diện tích đất đo thực tế 10,6m² là lối đi chung và buộc gia đình ông Nguyễn Văn L1 tháo dỡ các công trình trên đất là có căn cứ.
  7. Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn.
  8. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
  9. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
  10. Án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn L1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của ông Nguyễn Văn L1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST, ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Án phí: Ông Nguyễn Văn L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001436 ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ; ông L1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Hưng Yên;
  • - Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Quang Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp ngõ đi chung và tháo dỡ công trình trên đất

  • Số bản án: 68/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ngõ đi chung và tháo dỡ công trình trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ngõ đi chung, tháo dỡ công trình trên đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger