Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-PT

Ngày: 07/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Ly;

Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Nguyễn Việt Hùng;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 73/2023/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hương L do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Hương L, sinh năm: 2003 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn C, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tài Đ, sinh năm 1971 và bà Lê Thị H, sinh năm 1976; Có chồng Huỳnh Công R, sinh năm 1996 và 01 con, lớn sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Đinh Duy H1, sinh năm: 1995; Trú tại: Khu phố M, phường H, thị xã Đ, Phú Yên; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P tạm giữ xe ô tô biển số 78A-092.18 của Đinh Duy H1 có liên quan đến vụ án mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại đường N, Phường H, TP .. Thông qua sự giới thiệu của Huỳnh Công K, H1 biết Nguyễn Thị Hương L. Khoảng 08 giờ ngày 23/12/2022, H1 gặp đặt vấn đề nhờ L giúp nhận lại xe ô tô, L nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của H1 tiêu xài nên nói dối có quen ông H là Phó phòng Cảnh sát ma túy Công an tỉnh P đang thụ lý giải quyết vụ việc bảo H1 phải đưa tiền để lo chi phí, H1 đồng ý. Từ ngày 23/12/2022 đến ngày 10/01/2023, H1 đã nhiều lần đưa tiền cho L tổng cộng 79.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền L sử dụng tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

Lần thứ 1: Khoảng 14 giờ ngày 23/12/2022, L điện thoại bảo H1 đưa 20.000.000 đồng để đưa cho H. Khoảng 18 giờ cùng ngày, K và H1 đi xe taxi đến khu phố P, phường H gặp L, tại đây H1 đưa L 20.000.000 đồng. Sau đó, K điều khiển xe taxi chở H1 và L đến nhà hàng P ở đường M, Phường E, TP ., K và H1 ở ngoài xe, L vào nhà hàng P khoảng 20 phút quay ra nói đã đưa tiền cho H.

Lần thứ 2: Khoảng 08 giờ ngày 24/12/2022, L điện thoại hẹn gặp H1 tại khu phố P, phường H, thị xã Đ nói ngoài ông H còn một trưởng phòng, hai phó phòng và cấp dưới bảo H1 đưa thêm 20.000.000 đồng để đưa cho 04 người (mỗi người 5.000.000 đồng) và 15.000.000 đồng để chi phí ăn nhậu, H1 đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, H1 đi xe taxi đến khu phố M, phường H chở L ra TP ., trên đường đi H1 đưa L 20.000.000 đồng. Khi đến quán C ở đường L, Phường F, TP ., L bảo H1 đợi ở quán, L đón xe taxi đến nhà hàng P. Khoảng 30 phút sau quay lại nói đã đưa tiền cho H.

Lần thứ 3: Khoảng 14 giờ ngày 25/12/2022, H1 đi xe taxi đến thôn T, xã H chở L đến quán C1 ở khu phố P, phường H đưa L 15.000.000 đồng để lo chi phí ăn nhậu, L cất giữ tiền sau đó điện thoại nói cho H1 biết đã đưa tiền cho H.

Lần thứ 4: Khoảng 09 giờ ngày 31/12/2022, L nói với H1 có thanh tra đột xuất cuối năm nhưng không thấy H1 có mặt tại cơ quan Công an để lấy lời khai, L nói muốn lấy xe ra sớm phải lo tiền cho thanh tra. Khoảng 11 giờ cùng ngày, H1 đi xe taxi đến khu phố P, phường H chở L ra TP ., trên đường đi H1 đưa L 15.000.000 đồng. Khi đến quán C2 ở đường H, Phường F, TP ., H1 ở ngoài xe đợi, L đi vào quán khoảng 10 phút sau quay trở ra nói đã đưa tiên cho H.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2022 đến ngày 10/01/2023, L nói dối yêu cầu H1 phải viết bản tự khai tại nhà và đến Trung tâm X ở khu phố T, Phường G, TP . xét nghiệm chất ma túy. Mỗi lần đi xét nghiệm, L yêu cầu H1 đưa số tiền từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng để bồi dưỡng cho H. H1 đã nhiều lần đưa tiền cho L tổng cộng 9.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt: Nguyễn Thị Hương L 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/9/2023, bị cáo Nguyễn Thị Hương L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 03/10/2023, bị hại Đinh Duy H1 kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Hương L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Hương L tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 23/12/2022 đến ngày 10/01/2023, trên địa bàn thị xã Đ và thành phố T, bị cáo Nguyễn Thị Hương L đã có hành vi nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của ông Đinh Duy H1 số tiền 79.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Thị Hương L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hương L và bị hại, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp tài liệu thể hiện mới sinh con nhỏ được 04 tháng tuổi, bị cáo đã tự nguyện khắc phục thêm cho bị hại số tiền 4.000.000đ và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo. Tuy nhiên, hội đồng xét xử thấy mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hương L – 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Thị Hương L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - CQĐT Công an TX Đông Hoà;
  • - TAND TX. Đông Hoà;
  • - VKSND TX. Đông Hoà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Bị cáo;
  • - P.KTNV;
  • - Lưu án văn; lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quốc Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2023/HS-PT ngày 07/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 68/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hương L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger