|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2023/HS-ST Ngày: 20/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Nguyễn Hồng Thái.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên Trung cấp.
Vào ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: 9 Lắc), sinh ngày 10 tháng 8 năm 1978; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn B, sinh năm 1938 và bà Ngô Thị C (chết); có vợ Lê Thị G, sinh năm 1979 và 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 12/02/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Ngô Minh T1 – Luật sư, Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P; có mặt.
- Bị hại: Trương Công T2, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; đã chết.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Trương Công T2:
- Nguyễn Thị Thúy T3, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (vợ bị hại Trương Công T2); có mặt.
- Cháu Trương Thiện Â, sinh ngày 01/10/2017; cháu Trương Hạo N, sinh ngày 27/01/2013 (các con của bị hại Trương Công T2 với bà Nguyễn Thị Thúy T3); do bà Nguyễn Thị Thúy T3 đại diện theo pháp luật.
- Ông Trương Long S, sinh năm 1966, bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963. Cùng nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (là cha và mẹ của bị hại Trương Công T2); có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Đồng D, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Khu phố D, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Trương Tuấn H, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Khu phố D, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Lê Thị G, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Văn N1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 08/02/2023, Trương Công T2 gọi điện thoại, nhắn tin cho Nguyễn Văn T nội dung thách thức, hăm dọa liên quan việc T2 nợ tiền đánh bầu cua giữa hai người. Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 09/02/2023, sau khi nhậu xong, T2 bảo Trương Tuấn H chở T2 và Nguyễn Đồng D đến nhà T ở khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên để nói chuyện. Khi đến nhà T, T2 đứng ngoài đường la ó, chửi bới, thách thức gọi T ra ngoài đường nhưng T không ra, bà Lê Thị G (vợ T) ra trước cổng khuyên T2 đi về nhưng T2 không nghe mà đạp cửa cổng đi vào chỗ T đang đứng trong sân nhà, dùng chân phải đá vào người Thân, dùng tay phải đánh vào vùng đầu của T, bà G đến can ngăn, T lùi đến gần vòi nước quay lại lấy 01 con dao dài 47,5cm, mũi nhọn, T2 đi theo chửi T, T cầm dao bằng tay phải chém nhiều nhát về phía T2 nhưng không trúng. Thử lùi lại bỏ chạy, T chém trúng vào lưng, T2 bỏ chạy ra đường bê tông trước cửa nhà, T cầm dao đuổi theo chém tiếp 01 nhát trúng vào đuôi lông mày trái, T2 đưa tay lên đỡ thì T chém tiếp 01 nhát trúng vào vùng hông bên phải, T2 khụy chân xuống thì T dùng dao đâm vào đùi bên phải của T2, Thử cầm giữ lưỡi dao bằng tay phải, T rút mạnh con dao làm bàn tay phải của T2 bị thương tích, T2 vùng dậy bỏ chạy. Thấy T2 bị đánh, D lấy cây gỗ trong hàng rào chạy đến đánh vào người Thân, T đưa tay trái lên đỡ, tay phải cầm dao chém trúng vào vùng mặt bên trái của D. H cũng lấy cây gỗ ở hàng rào đánh trúng vào lưng của T rồi D và H vứt cây bỏ chạy. Thử được đưa đi cấp cứu thì chết. Thân rửa dao, cất giấu rồi bỏ trốn đến ngày 12/02/2023 ra đầu thú.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 48 ngày 07/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận nguyên nhân chết của Trương Công T2, mất máu cấp do rách thủng động mạch đùi phải.
Nguyễn Đồng D, Nguyễn Văn T có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Bản Cáo trạng số: 76/CT-VKSPY-P1 ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Giết người” theo Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo Nguyễn Văn T vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều khai về tình tiết vụ án như nội dung Cáo trạng đã nêu.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Giết người”.
+ Về Hình phạt: Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2023.
+ Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự;
++ Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường thiệt hại về tính mạng của Trương Công T2 bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thúy T3 đại diện nhận số tiền 187.284.844đ (Một trăm tám mươi bảy triệu, hai trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm bốn mươi bốn đồng), đã bồi thường 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng), nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 52.284.844đ (Năm mươi hai triệu, hai trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm bốn mươi bốn đồng).
++ Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trương Thiện Â, sinh ngày 01/10/2017 và cháu Trương Hạo N, sinh ngày 27/01/2023 hàng tháng từ 1.800.000đ (Một triệu, tám trăm nghìn 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/01 cháu/01 tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
++ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cây gỗ khô; 01 (một) áo thun cổ tròn màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu trắng; 01 (một) túi niêm phong có chứa chất màu nâu thẫm; các chất màu nâu thẫm thu ở hiện trường; quần dài Jean và quần đùi; áo hoa văn caro màu trắng xanh; khăn màu xanh; 02 (hai) khăn giấy ướt; 02 (hai) đối dép nhựa; 01 (một) con dao; các mẫu tách chiết ra từ các mẫu vật; các mẫu máu của Trương Công T2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đồng D còn lại sau giám định.
++ Tiếp tục tạm giữ tài sản thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án: 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 màu đen.
++ Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Trương Công T2 là bà Nguyễn Thị Thúy T3 đại diện nhận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone; 01 (một) móc khóa xe màu đen;
+ Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Luật sư Ngô Minh T1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử, phạt bị cáo mức án thấp hơn mức án mà Kiểm sát viên đề nghị.
Quá trình đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với lời đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên quan điểm. Bị cáo nói lời sau cùng, xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, nhưng họ đều đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử; do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại; căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, bản kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 09/02/2023, do có mâu thuẫn trong việc nợ tiền, Trương Công T2 cùng Trương Tuấn H và Nguyễn Đồng D đến nhà Nguyễn Văn T ở khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, khi đến trước cửa cổng nhà T thì T2 la ó, chửi bới, thách thức; đạp cửa cổng xông vào dùng tay, chân đánh T, bị đánh T lùi đến vị trí để đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, quay lại lấy một con dao dài 47,5cm đánh trả và đâm vào đùi của T2 làm Thử chết vì mất máu cấp do rách thủng động mạch đùi phải. Do đó, bản Cáo trạng số: 76/CT-VKS-P1 ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi dùng hung khí nguy hiểm quyết liệt đánh trả bị hại của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người bị hại, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương, nên cần xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, việc bị hại đêm khuya đến nhà bị cáo gây sự, la ó, chửi bới, đạp bung cửa cổng xông vào đánh bị cáo trước, làm bị cáo bức xúc đánh trả là có lỗi của bị hại. Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, sau khi phạm tội ra đầu thú, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường 135.000.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại để khắc phục hậu quả. Mặt khác, bị cáo sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống cách mạng, có bà nội Đoàn Thị T4 là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có cha Nguyễn B là thương binh; cha và chú ruột Nguyễn Văn M là người có công được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, có 02 chú ruột Nguyễn Văn T5, Nguyễn D1 là liệt sỹ, cha vợ Lê R có công với cách mạng được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho phù hợp.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự, thì bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội do mình gây ra; thiệt hại mà bị cáo phải bồi thường là chi phí hợp lý, hợp lệ cho việc mai táng người bị hại; và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại. Ngoài ra, người gây ra thiệt hại còn phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Trên cơ sở yêu cầu của đại diện hợp pháp cho bị hại, Hội đồng xét xử xem xét các khoản như sau:
[4.1] Khoản thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, giữa đại diện hợp pháp cho bị hại và bị cáo thống nhất thỏa thuận. Bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường, chi phí mai táng 79.284.844 đồng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 60 tháng lương cơ sở x 1.800.000đ/ tháng = 108.000.000 đồng; tổng cộng 187.284.844 đồng, đã bồi thường 135.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 52.284.844 đồng. Xét sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với đại diện hợp pháp cho bị hại.
[4.2] Đối với khoản cấp dưỡng nuôi 02 cháu Trương Thiện Â, sinh ngày 01/10/2017 và Trương Hạo N, sinh ngày 27/01/2023; là con của bị hại Trương Công T2 với bà Nguyễn Thị Thúy T3. Thấy rằng, bà Nguyễn Thị Thúy T3 không có việc làm ổn định, các con còn nhỏ, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trương Thiện A và cháu Trương Hạo N hàng tháng 2.000.000 đồng/01 cháu/01 tháng, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] 02 (hai) cây gỗ khô; 01 (một) áo thun cổ tròn màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu trắng; 01 (một) túi niêm phong có chứa chất màu nâu thẫm; các chất màu nâu thẫm thu ở hiện trường; quần dài Jean và quần đùi; áo hoa văn caro màu trắng xanh; khăn màu xanh; 02 (hai) khăn giấy ướt; 02 (hai) đối dép nhựa; 01 (một) con dao; các mẫu tách chiết ra từ các mẫu vật; các mẫu máu của Trương Công T2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đồng D còn lại sau giám định; là những vật trực tiếp liên quan đến tội phạm và không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.2] 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, 01 (một) móc khóa xe màu đen thu của bị hại Trương Công T2 khi khám nghiệm hiện trường. Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tuyên trả lại đại diện hợp pháp của bị hại do bà Nguyễn Thị Thúy T3 đại diện nhận theo Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.3] 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T. Bị cáo Nguyễn Văn T còn phải thi hành phần bồi thường dân sự, án phí nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tất cả vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; còn phải bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 52.284.844 đồng x 5% = 2.614.242 đồng; và phải cấp dưỡng nuôi con của bị hại, nên phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Nguyễn Văn T có hành vi dùng dao chém Nguyễn Đồng D gây thương tích; và Nguyễn Đồng D, Trương Tuấn H có hành vi dùng cây đánh Nguyễn Văn T gây thương tích, tuy nhiên D, T có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với T, D và H về tội Cố ý gây thương tích.
[8] Nguyễn Văn T khai có đánh bạc với Trương Công T2, người tên Q và C1, tuy nhiên T2 đã chết, Lê Văn Q1 và Phan Quang V (Chuối) khai không tham gia đánh bạc với T và T2 nên không có căn cứ xử lý T cùng những người này về hành vi đánh bạc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Giết người”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T – 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 12/02/2023).
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự;
2.1. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường thiệt hại về tính mạng của Trương Công T2 bị xâm phạm cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Thúy T3 đại diện nhận số tiền 187.284.844đ (Một trăm tám mươi bảy triệu, hai trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm bốn mươi bốn đồng), đã bồi thường 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng), nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 52.284.844đ (Năm mươi hai triệu, hai trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm bốn mươi bốn đồng).
2.2. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trương Thiện Â, sinh ngày 01/10/2017 và cháu Trương Hạo N, sinh ngày 27/01/2023 hàng tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/01 cháu/01 tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 09/02/2023 cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
3.1. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) cây gỗ khô; 01 (một) áo thun cổ tròn màu trắng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu trắng; 01 (một) túi niêm phong có chứa chất màu nâu thẫm; các chất màu nâu thẫm thu ở hiện trường; quần dài Jean và quần đùi; áo hoa văn caro màu trắng xanh; khăn màu xanh; 02 (hai) khăn giấy ướt; 02 (hai) đối dép nhựa; 01 (một) con dao; các mẫu tách chiết ra từ các mẫu vật; các mẫu máu của Trương Công T2, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đồng D còn lại sau giám định.
3.2. Tiếp tục tạm giữ tài sản thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án: 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 màu đen.
3.3 Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại Trương Công T2 là bà Nguyễn Thị Thúy T3 đại diện nhận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone; 01 (một) móc khóa xe màu đen.
Tất cả vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 2.614.242 đồng (Hai triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, hai trăm bốn mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm; 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 68/2023/HS-ST ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (giết người)
- Số bản án: 68/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSST - Nguyễn Văn Th - K2 Đ 123 - CT TÙNG
