|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67A/2024/DS-PT Ngày: 21–5–2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
Các Thẩm phán:Ông Dương Quốc Tuấn
Bà Lê Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thanh Giềng – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 29/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2023/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 09/TB-TA ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q
Địa chỉ: Tầng B, tầng C, Tòa nhà S - A P, phường B, quận A, TP Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thảo T – chức vụ: Cán bộ Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, B U, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
- Ông Võ Văn H
- Bà Lê Thị Trúc L
Cùng địa chỉ: số C, ấp T, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Văn C
- Bà Nguyễn Thị Ba
- Bà Võ Thị N
- Ông Nguyễn Trần D
- Ông Võ Văn Â
- Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang
Cùng địa chỉ: ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Cùng địa chỉ: ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện hợp pháp: ông Trương Thanh B – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Văn D1 Em, Đặng Nhật D2 và bà Nguyễn Thảo T trình bày thống nhất như sau:
Ngày 10/10/2019, Ngân hàng V có ký hợp đồng tín dụng số 1975534.19 với ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L. Theo đó, N1 VIB cho ông H, bà L vay số tiền 1.600.000.000đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), mục đích vay để sửa chữa nhà và mua sắm trang thiết bị trong gia đình. Thời hạn vay 180 tháng, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 10,80%/năm, áp dụng trong 12 tháng đầu. Hết 12 tháng, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ, cộng biên độ 3,9%/năm, trả tiền nợ gốc vào ngày 16 hàng tháng, trả trong 180 tháng, 179 tháng đầu mỗi tháng trả 8.888.000đồng, tháng cuối trả 9.048.000đồng, kỳ trả đầu tiên vào ngày 16/11/2019. Trả lãi vào ngày 16 hàng tháng, kỳ trả đầu tiên vào ngày 16/11/2019. Trả phí theo quy định của V từng thời kỳ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vì vậy Ngân hàng V đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 17/02/2021.
Vì vậy, Ngân hàng V yêu cầu ông H, bà L thanh toán cho VIB số tiền nợ tính ngày 01/4/2022 là 1.727.961.204đồng, trong đó nợ gốc là 1.466.680.000đồng, lãi trong hạn là 16.070.641đồng, lãi quá hạn là 245.210.563đồng. Yêu cầu ông H, bà L tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/4/2022 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 1975534.19 ký ngày 10/10/2019 cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp ông H, bà L không trả hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng V yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp là 04 quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 8354504.19 ký ngày 15/10/2019, cụ thể như sau:
3
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00282 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00283 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1194, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00281 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 94, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00284 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
Nếu sau khi phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết nợ cho V thì ông H, bà L có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho VIB cho đến khi trả hết nợ. Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà Võ Thị N và ông Nguyễn Trần D.
Quá trình tố tụng bị đơn là ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H và bà L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N trình bày: Bà là chị ruột của ông Võ Văn H, việc ông H, bà L thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng V bà không biết. Phần đất mà ông H thế chấp ngân hàng có nguồn gốc là của cha, mẹ của bà là Võ Văn C, Nguyễn Thị Ba t cho H. Nhưng bà không biết vì sao phần đất bà được ông Võ Văn  tặng cho bà đang ở và canh tác lại nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H. Bà ở đây từ khi bà 18 tuổi, bán quán cà phê, đến năm 20 tuổi lấy chồng vẫn ở tại đây cho đến nay. Căn nhà mà vợ chồng bà đang ở xây dựng vào năm ông Nguyễn Trần D 34 tuổi, năm nay ông D 60 tuổi (trong giấy tờ 57 tuổi). Nhà này lúc đầu là nhà cây, lá, đến năm ông D 34 tuổi ông, bà mới xây nhà bê tông cốt thép ở cho đến nay. Trên đất có cây lâu năm như sầu riêng, măng cụt đã trồng được 29 năm. Vì vợ chồng bà trồng khi đứa con lớn được 02 tuổi, nay nó đã 31 tuổi.
Vì vậy, bà không đồng ý cho phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất mà bà đang ở và canh tác. Việc Ngân hàng V cho ông H vay tiền, không thẩm định tình trạng đất để thấy có nhà cửa, tài sản, cây trồng trên đất của bà là sai sót, lỗi của ngân hàng.
Nếu đất là của H thì làm sao bà cất nhà ở và trồng cây lâu năm từ đó đến nay được. Vì vậy, bà yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp đất giữa Ngân hàng V và Võ Văn H, Lê Thị Trúc L, công nhận cho bà phần đất diện tích 3.495,3m² như đơn yêu cầu độc lập bà đã trình bày.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trần D là chồng của bà Võ Thị N trình bày như sau: Đất mà vợ chồng ông đang quản lý, sử dụng có hai phần. Phần do ông C, bà B1 cho đã được cấp bằng khoán diện tích 6.000m², phần ông Võ Văn  cho chưa được cấp bằng khoán. Đến khi Ngân hàng V khởi kiện, Tòa án tiến hành đo đạc ông mới phát hiện đất của ông nằm trong bằng khoán của ông H. Bà N sống ở đây từ năm 18 tuổi, sau khi ông và bà N cưới nhau vẫn tiếp tục sinh sống tại đây.
Căn nhà mà vợ chồng ông đang ở xây dựng vào năm ông 34 tuổi, năm nay ông đã 60 tuổi. Nhà này lúc đầu là nhà cây, lá, đến năm ông 3 tuổi mới xây nhà bê tông cốt thép ở cho đến nay.
Cây trồng trên phần đất của ông, bà có sầu riêng và măng cụt đã trồng được 29 năm, vì ông, bà trồng khi đứa con lớn được 02 tuổi, nay nó đã 31 tuổi.
Nếu đất này là của H thì làm sao ông cất nhà ở và trồng cây lâu năm từ đó đến nay được. Vì vậy, ông yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp đất giữa Ngân hàng V và Võ Văn H, Lê Thị Trúc L, công nhận cho vợ chồng ông phần đất diện tích 3.495,3m².
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn  trình bày như sau: Phần đất bà N và ông D đang quản lý sử dụng có nguồn gốc là của ông mua của ông Võ Văn N2 cách đây hơn 30 năm. Sau đó ông cho ông D và bà N, việc cho tặng có làm giấy tay nhưng chưa sang tên. Đến nay, ông không hiểu vì sao đất của bà N, ông D lại có một phần có bằng khoán của N và D, phần lại nằm trong bằng khoán của Võ Văn H. Ông đề nghị Tòa án căn cứ vào thực tế quá trình sử dụng đất của ông D, bà N mà công nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà N theo đo đạc thực tế.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn C và bà Nguyễn Thị B2 trình bày như sau: Ông, bà là cha mẹ ruột của ông Võ Văn H, bà L là con dâu. Từ nhỏ, ông H sống cùng với ông, bà. Sau khi ông H cưới vợ, ông bà cho H nhà, đất ở thị trấn R. Đến năm 2010, ông bà thấy mình đã già, ông H thì năn nỉ ông C ký sang tên quyền sử dụng đất. Việc ông H, bà L thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền ngân hàng ông, bà không biết. Ông H có dẫn người vô coi vườn cam nói để hướng dẫn sử dụng thuốc chứ ngân hàng không có ai gặp và nói chuyện với ông, bà. Hiện tại, ông, bà vẫn đang sinh sống tại nhà trên phần đất thế chấp, nếu sau này H và L không có khả năng trả nợ thì ông, bà cũng đồng ý cho phát mãi tài sản để trả nợ ngân hàng. Đối với phần đất Ngộ và D đang quản lý sử dụng một phần là do Võ Văn  cho, một phần ông bà cho. Ngộ đã ở đó từ khi Ngộ 18 tuổi. Vì vậy, ông bà đồng ý công nhận quyền sử dụng đất cho N và D như N và D yêu câu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện P, người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Thanh B- Phó phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P, tỉnh Hậu Giang trong suốt quá trình tố tụng vắng mặt có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện P có Công văn số 1839/UBND ngày 12/10/2022 xác định việc cấp quyền sử dụng đất số CH000281, CH00282, CH00283 và CH00284 cấp cho ông Võ Văn H là đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003.
5
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thảo T xác định nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông H, bà L trả số tiền nợ tính đến ngày 24/8/2023 là 2.174.400.764đồng, trong đó nợ gốc là 1.466.680.000đồng, lãi trong hạn là 16.070.641đồng, lãi quá hạn là 691.650.123đồng. Trường hợp ông H, bà L không trả hoặc trả không đầy đủ thì yêu cầu cho phát mãi tài sản thế chấp là các quyền sử dụng đất số CH000281, CH00282, CH00283 và CH00284 cấp cho ông Võ Văn H để thu hồi nợ cho V. Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà Võ Thị N và ông Nguyễn Trần D về việc tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và công nhận cho bà N, ông D quyền sử dụng đất diện tích 3.495,3m².
Bà Võ Thị N, ông Nguyễn Trần D giữ nguyên yêu cầu độc lập về việc tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và công nhận cho ông, bà quyền sử dụng đất diện tích 3.495,3m².
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2023/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với bị đơn là ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L.
Buộc ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền nợ tính đến ngày 24/8/2023 là 2.174.400.764 đồng (hai tỷ một trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm ngàn bảy trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 1.466.680.000đồng (Một tỷ bốn trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng), lãi trong hạn là 16.070.641đồng (Mười sáu triệu không trăm bảy mươi ngàn sáu trăm bốn mươi mốt đồng), lãi quá hạn là 691.650.123đồng (Sáu trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi ngàn một trăm hai mươi ba đồng). Ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q từ ngày 25/8/2023 theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1975534.19 ký kết ngày 10/10/2019 cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là phần đất số 02 diện tích 12.699,3m² trên mãnh trích đo địa chính số 06/CN.SHC ngày 06/01/2023 của Chi nhánh Công ty TNHH Đ để thu hồi nợ.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Võ Thị N và ông Nguyễn Trần D về việc tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp giữa ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L với Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với phần đất số 01 diện tích 3.495,3m² trên mãnh trích đo địa chính số 06/CN.SHC ngày 06/01/2023 của Chi nhánh Công ty TNHH Đ. Trong đó có 1.402,9m² loại đất CLN thuộc thửa 94 tờ bản số 1, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00284 do ông Võ Văn H đứng tên chủ sử dụng và 2.092,4m² loại đất CLN thuộc thửa 112, tờ bản đồ số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00283 do ông Võ Văn H đứng tên chủ sử dụng.
6
(Kèm theo mãnh trích đo địa chính số 06/CN.SHC ngày 06/01/2023 của Công ty TNHH Đ)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L không trả nợ hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng được quyền tự mình và/hoặc đề nghị Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi đối với phần diện tích 16.194,6m² theo hợp đồng thế chấp mà bị đơn đã ký kết để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N và ông Nguyễn Trần D vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập công nhận phần đất diện tích 3.495,3m² thuộc quyền sử dụng đất của bà N và ông D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở xem xét chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/9/2023, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Nguyên đơn cho rằng là người thứ ba ngay tình khi thực hiện giao dịch thế chấp với ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Để đảm bảo cho khoản vay, bị đơn ông H và bà L đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất cho Ngân hàng thông qua hợp đồng thế chấp số 835450.19 ngày 15/10/2019 gồm:
+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu
7
Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00282 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00283 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1194, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00281 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
+ Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 94, tờ bản đồ số 1, tọa lạc ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00284 do UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 22/11/2010 cho ông Võ Văn H.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án khi tiến hành đo đạc, thẩm định lần đầu ngày 14/7/2022, phía đại diện ngân hàng không xác định đúng được các quyền sử dụng đất đã nhận thế chấp dẫn đến việc đo đạc, thẩm định bao trùm lên phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Võ Văn C, thể hiện tại Mãnh trích đo địa chính số 446/CN.SHC ngày 08/8/2022 của Chi nhánh Công ty TNHH Đ. Đến lần đo đạc, thẩm định lại vào ngày 15/11/2022 thì mới xác định đúng được vị trí đất Ngân hàng nhận thế chấp.
Đồng thời, theo hồ sơ thể hiện, trên đất thế chấp có ông Võ Văn C, bà Nguyễn Thị B2 là cha mẹ của ông H đang ở; có nhà của bà Võ Thị N, ông Nguyễn Trần D đang ở. Phía ngân hàng không cung cấp được hồ sơ thẩm định, khảo sát trước khi nhận thế chấp để xác định xem tại thời điểm nhận thế chấp quyền sử dụng đất này có tranh chấp hay không, trên đất có những ai đang sinh sống, có tài sản của ai trên đất và kháng cáo cho rằng bị đơn cam kết với nguyên đơn tài sản đảm bảo thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn.... nguyên đơn đã thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp đối với các tài sản trên là đúng quy định theo Luật Đất đai, luật Công chứng, bộ luật Dân sự và viện dẫn theo các Điều luật có liên quan để khẳng định quyền lợi của nguyên đơn phải được bảo vệ và ưu tiên là không hợp lý. Bởi lẽ việc thẩm định, khảo sát tài sản trước khi nhận thế chấp phải được ngân hàng xuống phần đất để thực hiện. Tại thời điểm ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất thì có ông Võ Văn C, bà Nguyễn Thị B2 là cha mẹ của ông H đang ở; có nhà của bà Võ Thị N, ông Nguyễn Trần D đang ở nhưng ngân hàng lại không tiến hành ghi nhận ý kiến của họ và tại phiên tòa cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V cũng xác định khi thẩm định tài sản thế chấp chỉ thẩm định theo lời khai của ông H, không có làm việc với bà N, ông D, hồ sơ thẩm định giá cũng không thể hiện trên đất thế chấp có nhà và cây trồng của ông D, bà N. Theo kết quả xác minh tại địa phương ngày 01/11/2022 thì ông Nguyễn Văn L1 là trưởng ấp H xác định: Ông làm chính quyền ấp từ năm 2004, đến năm 2018 thì làm trưởng ấp cho đến nay. Theo ông biết thì bà Võ Thị N đã sinh sống tại phần đất này khi chưa lấy chồng và sau khi lấy chồng, sinh con cũng sinh sống tại đây. Bà N ông
8
D có cất nhà kiên cố tại đây để ở. Việc Ngân hàng V không làm việc với chính quyền địa phương là cơ quan quản lý quá trình sử dụng đất để xác định đất có tranh chấp hay không, thẩm định tài sản trước khi nhận thế chấp chỉ dựa trên lời trình bày của ông Võ Văn H là chưa đảm bảo tính khách quan và minh bạch dẫn đến việc tranh chấp như hiện nay, ảnh hưởng đến quyền lợi lích hợp pháp của bà N và ông D.
Vì vậy, tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp của bà N và ông D đối với diện tích đất 3.495,3m² mà bà N và ông D đang quản lý, sử dụng là có căn cứ.
[2.2] Nguyên đơn cho rằng quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà N là không có căn cứ, bởi lẽ không có hồ sơ, tài liệu chứng minh quyền sử dụng đất của bà N. Xét nguồn gốc phần đất 3.495,3m² mà ông D, bà N yêu cầu công nhận theo ông, bà là do ông Võ Văn  và ông Võ Văn C, bà Nguyễn Thị Ba t cho. Việc này được ông C, bà B2 và ông  thừa nhận nhưng các giấy tờ về tặng cho đất thì không thể hiện cụ thể diện tích, loại đất, vị trí đất như thế nào và cũng không còn bản gốc, bà N chỉ nộp bản sao chụp. Tuy nhiên, bà N và ông D đã sinh sống tại đất này, canh tác quản lý đất trên 30 năm, trên đất có nhà tường, bê tông cốt thép, hầu hết đất đều trồng cây lâu năm đang tuổi cho trái và thu hoa lợi. Chính quyền ấp, xã cũng xác định vợ chồng bà N và ông D đã ở trên đất từ khi bà N chưa lấy chồng, hiện nay con lớn của bà N đã hơn 29 tuổi (sinh ngày 13/4/1994). Đối chiếu với quy định tại Điều 236 của Bộ luật dân sự 2015 thì bà N và ông D đã quản lý, sử dụng phần đất này công khai suốt thời gian 30 năm, vì vậy có căn cứ xác lập quyền sử dụng hợp pháp cho ông D, bà N. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông D, bà N là có căn cứ.
[3] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2023/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng:
- - Các Điều 100, Điều 101 của Luật Đất đai 2013;
- - Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015;
- - Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
9
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với bị đơn là ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L.
Buộc ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền nợ tính đến ngày 24/8/2023 là 2.174.400.764đồng (hai tỷ một trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm ngàn bảy trăm sáu mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 1.466.680.000đồng (Một tỷ bốn trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng), lãi trong hạn là 16.070.641đồng (Mười sáu triệu không trăm bảy mươi ngàn sáu trăm bốn mươi mốt đồng), lãi quá hạn là 691.650.123đồng (Sáu trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi ngàn một trăm hai mươi ba đồng). Ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q từ ngày 25/8/2023 theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1975534.19 ký kết ngày 10/10/2019 cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp ông Võ Văn H, bà Lê Thị Trúc L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là phần đất số 02 diện tích 12.699,3m² trên mãnh trích đo địa chính số 06/CN.SHC ngày 06/01/2023 của Chi nhánh Công ty TNHH Đ để thu hồi nợ.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Võ Thị N và ông Nguyễn Trần D về việc tuyên vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp giữa ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L với Ngân hàng thương mại cổ phần Q đối với phần đất số 01 diện tích 3.495,3m² trên mãnh trích đo địa chính số 06/CN.SHC ngày 06/01/2023 của Chi nhánh Công ty TNHH Đ. Trong đó có 1.402,9m² loại đất CLN thuộc thửa 94 tờ bản số 1, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00284 do ông Võ Văn H đứng tên chủ sử dụng và 2.092,4m² loại đất CLN thuộc thửa 112, tờ bản đồ số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00283 do ông Võ Văn H đứng tên chủ sử dụng.
(Kèm theo mãnh trích đo địa chính số 06/CN.SHC ngày 06/01/2023 của Công ty TNHH Đ.)
2. Về án phí: Bị đơn là Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L phải chịu 75.788.015đồng (Bảy mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn không trăm mười lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Võ Thị N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012369 ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.093.298 đồng (Ba mươi triệu không trăm chín mươi ba ngàn hai trăm
10
chín mươi tám đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0011756 ngày 10 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
3. Về chi phí đo đạc, thẩm định: Bị đơn là ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L phải chịu 13.000.000đồng (Mười ba triệu đồng). Do Ngân hàng thương mại cổ phần Q đã nộp tạm ứng số tiền 13.000.000đồng (Mười ba triệu đồng) này nên ông Võ Văn H và bà Lê Thị Trúc L phải nộp để trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng thương mại cổ phần Q phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002268 ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 21/5/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |
Bản án số 67A/2024/DS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp
- Số bản án: 67A/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm