Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 679/2025/DS-PT

Ngày: 18-6-2025

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản,

hủy giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán:

Ông Chung Văn Kết

Ông Hoàng Minh Thịnh

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 670/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 “Tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3896/2025/QĐPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1971; địa chỉ thường trú: số G (trệt), đường T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: số C, đường số B, khu dân cư F, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Minh S, sinh năm 1970; địa chỉ: B, chung cư H, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 03/01/2020); có mặt.

2. Bị đơn:

2.1. Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1966 và ông Huỳnh Quang X, sinh năm 1961; cùng địa chỉ: số C (số cũ C), khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị Ngọc D và ông Huỳnh Quang X: Nguyễn Thị An H, sinh năm 1996; Địa chỉ: C đường F, Khu phố C phường C, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Nguyễn Anh T – Đoàn luật sư Thành phố H. có mặt

2.2. Bà Trần Thị Như L, sinh năm 1968; địa chỉ: số B, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trần Đắc K, sinh năm 1964; địa chỉ: B O, St B, USA.

Người đại diện hợp pháp của ông Trần Đắc K: Bà Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1971; địa chỉ thường trú: số G (trệt), đường T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: số C, đường số B, khu dân cư F, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền số 372 LSQNY/2020 ngày 20/02/2020 của L5 tại N); có mặt.

3.2. Ông Trần Đắc K1, sinh năm 1965; địa chỉ: số C (số cũ C), đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

3.3. Ông Trần Đắc K2, sinh năm 1969; địa chỉ: số I (số C), khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

3.4. Ông Trần Đắc K3, sinh năm 1972; địa chỉ: số C (số cũ A), khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

3.5. Ông Trần Đắc K4, sinh năm 1974; địa chỉ: số C (số cũ C), đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

3.6. Ông Trần Đắc K5, sinh năm 1977; địa chỉ: số C (số cũ C), đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương;.

3.7. Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: số A, Trung tâm hành chính D, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Văn H1, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.8. Ông Ngô Đình B, sinh năm 1990; địa chỉ: số A, đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

3.9. Bà Trần Thị Liên H2, sinh năm 1933 (chị của ông Trần Đắc Q); địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh;

3.10. Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1989 (người thuê ki ốt trên thửa đất số 2076); địa chỉ: xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: số I (số cũ 43/2), khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.11. Bà Lê Thị Lệ D1, sinh năm 1954, chết ngày 04/7/2022 (con ông Lê Quan K6).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà D1: Ông Nguyễn Minh X1, sinh năm 1946 (chồng của bà D1); địa chỉ: số H, đường N, khu phố B, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.12. Bà Lê Thị Lệ O, sinh năm 1955 (con ông Lê Quan K6); địa chỉ thường trú: số A, đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số C, đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt

3.13. Ông Lê Quang P, sinh năm 1956 (con ông Lê Quan K6); địa chỉ: số A, tổ C, ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

3.14. Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1957 (con ông Lê Quan K6); địa chỉ: số A, đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.15. Bà Lê Thị Thu H3, sinh năm 1958 (con ông Lê Quan K6); địa chỉ: số C, đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.16. Ông Lê Quan T1, sinh năm 1960 (con ông Lê Quan K6); địa chỉ: số D, đường L, khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

3.17. Bà Lê Thị Lệ X2, sinh năm 1961 (con ông Lê Quan K6); địa chỉ: số A, đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.18. Bà Lê Thị Lệ T2, sinh năm 1963 (con ông Lê Quan K6); địa chỉ thường trú: số C, đường C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: số C, đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của ông Minh X1, ông P, bà C, bà H3, ông T1, bà Lệ X2, bà T2: Bà Lê Thị Lệ O, sinh năm 1955; địa chỉ thường trú: số A, đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số C, đường L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 12/01/2023, ngày 30/01/2023 và ngày 05/7/2023); có mặt.

3.19. Bà Lê Thụy Tuyết T3, sinh năm 1980 (vợ của ông K4); có mặt.

3.20. Cháu Trần Đắc D2, sinh năm 2007 (con của ông K4);

3.21. Cháu Trần Đắc D3, sinh năm 2009 (con của ông K4);

Người đại diện hợp pháp của cháu D2 và cháu D3: Ông Trần Đắc K4 và bà Lê Thụy Tuyết T3 (cha mẹ ruột); có mặt.

Cùng địa chỉ: C (số cũ C), đường Đ, khu phố Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

3.22. Bà Lê Thị Phương T4, sinh năm 1991 (con dâu của bà D); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.23. Ông Huỳnh Quang T5, sinh năm 1990 (con của bà D); có mặt.

3.24. Bà Huỳnh Ngọc Thanh T6, sinh năm 1987 (con của bà D);

Cùng địa chỉ: C (số cũ C), đường Đ, khu phố Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

3.25. Bà Hoắc Tú M1, sinh năm 1977 (vợ ông K3);

3.26. Cháu Trần Ngọc N1, sinh năm 2008 (con ông K3);

3.27. Cháu Trần Ngọc N, sinh năm 2012 (con ông K3);

Người đại diện hợp pháp của cháu N1 và cháu N: Ông Trần Đắc K3 và bà Hoắc Tú M1 (cha mẹ ruột).

Cùng địa chỉ: số C (số cũ A), khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

3.28. Bà Trương Thị Bích H4, sinh năm 1969 (vợ ông K2); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.29. Cháu Trần Đắc L1, sinh năm 2000 (con ông K2); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3.30. Cháu Trần Nguyệt M2, sinh năm 2004 (con ông K2); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Cùng địa chỉ: số I (số C), khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

3.31. Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: số D đường L, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Xin vắng

3.32. Ông Lê Hữu T7, sinh năm 1940; địa chỉ: số A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người kháng cáo: Do có kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 19/11/2019, ngày 02/12/2019, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Đắc Q, sinh năm 1937 (chết ngày 29/7/2003) và bà Lê Ngọc S3, sinh năm 1938 (chết ngày 10/10/2015); ông Q, bà S3 có 09 người con gồm: Ông Trần Đắc K, sinh năm 1964; ông Trần Đắc K1, sinh năm 1965; bà Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1966; bà Trần Thị Như L, sinh năm 1968; ông Trần Đắc K2, sinh năm 1969; bà Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1971; ông Trần Đắc K3, sinh năm 1972; ông Trần Đắc K4, sinh năm 1974; ông Trần Đắc K5, sinh năm 1977. Ngoài ra không còn người con nuôi hay con riêng nào khác. Cha mẹ của ông Q là ông Trần Đắc B1, sinh năm 1909 (chết 1964) và bà Ngô Thị L2, sinh năm 1914 (chết năm 2007); ông B1, bà L2 có 02 người con gồm: Ông Trần Đắc Q; bà Trần Thị Liên H2, sinh năm 1933. Cha mẹ của bà S3 là ông Lê Văn T8, sinh năm 1904 (chết năm 1984) và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1909 (chết năm 1986); ông T8, bà Ú có 03 người con gồm: bà Lê Ngọc A, sinh năm 1930 (chết ngày 12/4/2018, không có chồng con); ông Lê Quan K6, sinh năm 1936 (chết ngày 14/4/1963); bà Lê Ngọc S3 sinh năm 1938 (chết ngày 10/10/2015).

Hàng thừa kế thứ ba của bà Lê Ngọc A: cụ nội không biết; cụ ngoại không biết; bác ruột, chú ruột, cô ruột: bác Lê Văn L3, đã chết; cô Lê Thị B2, đã chết; cô Lê Thị X3, đã chết; cô Lê Thị S1, đã chết; cậu ruột, dì ruột không biết; cháu

ruột gồm: chi con của ông Lê Quan K6 gọi bà A là cô gồm: bà Lê Thị Lệ D1 (sinh năm 1954, chết ngày 04/7/2022, có có chồng là ông Nguyễn Minh X1), bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quang S2 (sinh năm 1959, chết ngày 13/7/1981), không có vợ con, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2; chi con của bà Lê Ngọc S3 gọi bà A là dì gồm: ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5.

Lúc còn sống, ông Q và bà S3 được thừa hưởng từ ông Lê Văn T8, bà Nguyễn Thị Ú diện tích đất 21.603,5m² tại địa chỉ: số C (số cũ C), khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo tờ chia đất ngày 03/12/1960.

Ngày 04/8/2009, các ông bà gồm: Trần Đắc K, Trần Đắc K1, Trần Thị Ngọc D, Trần Thị Như L, Trần Đắc K2, Trần Thị Ngọc M, Trần Đắc K3, Trần Đắc K4, Trần Đắc K5 lập tờ chỉ chúc (tờ di chúc có bà Lê Ngọc S3 đồng thuận ký tên, lăn tay) có nội dung:

“Chúng tôi là những người con kế nghiệp thừa hưởng của ông Trần Đắc Q, chết ngày 29/7/2003 và Lê Ngọc S3 là chủ sở hữu 02 phần đất tọa lạc tại C, ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương và 43/2, ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương gồm: 4.313m² thuộc thửa số 2076 (thửa cũ 94, 95, 1442, 1443), tờ bản đồ số 9TDH.1 (sơ đồ A) và 25.350m² thuộc thửa số 228ie (thửa cũ), tờ bản đồ số 228 (sơ đồ B). Hôm nay chúng tôi kế nghiệp thừa hưởng của ông Trần Đắc Q và sự thuận phân của bà Lê Ngọc S3 để cùng nhau thỏa hiệp định chia những thửa đất trên ra như sau:

Phần thứ nhất: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Đắc K, vị trí số 11, sơ đồ B.

Phần thứ 2: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Đắc K1, vị trí số 06, sơ đồ B.

Phần thứ 3: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Thị Ngọc D, vị trí số 03, sơ đồ B.

Phần thứ 4: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Thị Như L, vị trí số 08, sơ đồ B.

Phần thứ 5: 2.000m² (số bản đồ 9TĐH.1), được chia cho Trần Đắc K2, vị trí số 02, sơ đồ A, đã trừ đất thổ mộ, phần đất còn lại và nhà thờ thuộc về Trần Đắc K.

Phần thứ 6: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Thị Ngọc M, vị trí số 09, sơ đồ B.

Phần thứ 7: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Đắc K3, vị trí số 05, sơ đồ B.

Phần thứ 8: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Đắc K4, vị trí số 02, sơ đồ B.

Phần thứ 9: 2.000m² (số bản đồ 228), được chia cho Trần Đắc K5, vị trí số 04, sơ đồ B.

Phần thứ 10: trên 2.000m² (số bản đồ (TĐH.1), vị trí số 01, sơ đồ A, chỉ trao lại cho Trần Đắc K quyền quản lý nhà thờ, chăm sóc thờ cúng ông bà chứ không được đem đi thế chấp mua bán dưới mọi hình thức.

Phần còn lại khoảng 9.663m² gồm đất lối đi chung nội bộ thì thuộc quyền quản lý sử dụng chung của các thành viên trong gia đình, còn quyền quản lý, định đoạt phần đất dư thừa sẽ thuộc về mẹ Lê Ngọc S3. Sau này không ai được quyền chiếm giữ để sử dụng riêng tư hoặc mua bán sang nhượng, trừ khi có sự đồng ý của mẹ Lê Ngọc S3 hoặc sự đồng ý ký tên đầy đủ của ít nhất 06 phần ăn kế nghiệp nêu trên.

Chúng tôi kế nghiệp thừa hưởng, đồng nhìn nhận phần ăn của mỗi người tuy số sào mẫu, diện tích có thể không đồng đều với nhau chút ít, vì tùy ruộng đất, địa điểm tốt xấu chứ không ai hơn, ai kém cả, nên chúng tôi đồng ý ký tên không ai khiếu nại điều chi cả, mỗi phần ăn chỉ được toàn quyền sử dụng, khai thác hoa lợi từ phần diện tích đất được cho mà thôi. Nghiêm cấm sang nhượng dưới mọi hình thức và chỉ sau 03 năm mãn tang của mẹ là bà Lê Ngọc S3 thì quyền sang nhượng hợp pháp mới có giá trị pháp lý”.

- Nguyên đơn yêu cầu:

+ Tuyên di sản của ông Trần Đắc Q và bà Lê Ngọc S3 là 21.603,5m² (bao gồm diện tích 2.000m² thuộc thửa số 1890, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 569411 do Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 09/02/2018, đứng tên ông Huỳnh Quang X, bà Trần Thị Ngọc D; diện tích 1.998,6m² thuộc thửa số 1915, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 177790, số vào sổ CH25972 do UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 17/6/2019, đứng tên bà Trần Thị Như L).

+ Chia di sản thừa kế của ông Trần Đắc Q (chết năm 2003) và bà Lê Ngọc S3 (chết năm 2015) là quyền sử dụng đất diện tích 21.603,5m² (đo đạc thực tế 21.604,4m²) gồm: 2.000m² (thửa số 1890) + 1.998,6m² (thửa số 1915) + 17.605.8m², tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thành 10 phần bằng nhau cho các đồng thừa kế của ông Q và bà S3 gồm 10 người: Trần Thị Liên H2, Trần Đắc K, Trần Đắc K1, Trần Thị Ngọc D, Trần Thị Như L, Trần Đắc K2, Trần Thị Ngọc M, Trần Đắc K3, Trần Đắc K4, Trần Đắc K5, cụ thể bà M yêu cầu được hưởng 2.163,5m².

+ Hủy quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 569411, số vào sổ CH22984 do UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 09/02/2018, đứng tên ông Huỳnh Quang X, bà Trần Thị Ngọc D và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 177790, số vào sổ

CH25972 do UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 17/6/2019, đứng tên bà Trần Thị Như L).

- Đối với yêu cầu độc lập của ông K2:

Diện tích đất đo đạc thực tế 3.213,1m² thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 9TDH.1 toạ lại tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3 và Lê Ngọc A. Phần tài sản của bà Lê Ngọc S3 3.213,1m²/2 = 1.606,65m² chia đều cho 09 đồng thừa kế, mỗi kỷ phần được hưởng 178,5m².

- Đối với yêu cầu độc lập của bà O:

Diện tích đất đo đạc thực tế 3.213,1m² thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 9TDH.1 toạ lại tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3 và Lê Ngọc A. Phần tài sản của bà Lê Ngọc A 3.213,1m²/2 = 1.606,65m² chia đều cho 17 đồng thừa kế gồm 09 người con của bà S3, 08 người con của ông Lê Quan K6, mỗi kỷ phần được hưởng 94,50m².

Yêu cầu được nhận hiện vật.

Yêu cầu tước quyền thừa kế của bà D.

Bị đơn trình bày:

- Tại bản trình bày ngày 03/01/2020, ngày 31/3/2020, ngày 03/11/2020 ông Huỳnh Quang X, bà Trần Thị Ngọc D trình bày: Ông X, bà D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 569411, số vào sổ CH22984 do UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp ngày 09/02/2018 đối với diện tích 2.000m² thuộc thửa đất số 1980, tờ bản đồ số 23, tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, nguồn gốc đất là do ông Q, bà S3 viết giấy nhượng đất vào năm 1990 cho con rể là ông X có xác nhận của chính quyền địa phương, quá trình sử dụng từ năm 1990 đến nay chưa xảy ra tranh chấp, căn cứ giấy chứng nhận trên ông X là chủ sở hữu thửa đất và bà D cùng đứng tên theo hình thức sở hữu vợ chồng, nên không thể xác định đây là di sản của bà Lê Ngọc S3 để lại. Ngày 25/7/2019, ông X, bà D chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Ngô Đình B bằng hợp đồng đặt cọc với số tiền cọc là 2.000.000.000 đồng, khi đang tiến hành thủ tục sang nhượng thì bà M gửi đơn kiện nhằm cho gia đình không giao dịch được và phải bồi thường tiền cọc, tiền hợp đồng cho ông B. Yêu cầu bồi thường thiệt hại vì hoạt động khiếu nại các cấp của bà M. Đề nghị, Tòa án công nhận diện tích đất 2.000m² nêu trên là tài sản riêng của vợ chồng ông X, bà D, không phải là di sản của bà S3.

- Tại đơn phản tố ngày 16/10/2020, ông X, bà D có yêu cầu:

+ Đưa phần đất 3.363,4m² thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 9TĐH.1 tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do bà Lê Ngọc S3 (mẹ của bà D) và bà Lê Ngọc A (dì của bà D) đứng tên trên giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất vào việc mở thừa kế cho những người thừa kế của bà S3 và bà A theo quy định pháp luật.

+ Đưa phần đất 2.000m² thuộc thửa số 1890 ra khỏi phần di sản thừa kế của bà S3, hủy yêu cầu của bà M.

+ Bà M bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000.000 đồng với lý do: ngày 25/7/2019, ông bà sang nhượng phần đất thuộc thửa số 1890 cho ông Ngô Đình B bằng hợp đồng đặt cọc với số tiền 2.000.000.000 đồng, bà M đã ngăn cản và gửi đơn kiện lên Tòa án nhằm đưa đất vào diện tranh chấp để không cho bán đất. Hậu quả ông bà không thể giao dịch được đất, phải hoàn trả tiền cọc 2.000.000.000 đồng và bị ông B yêu cầu phạt cọc 4.000.000.000 đồng, ông bà đã trả tiền cọc và bồi thường 2.000.000.000 đồng nhưng ông B chưa đồng ý. Khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là do bà M gây ra dẫn đến thiệt hại.

- Tại đơn phản tố ngày 03/11/2020, ông X, bà D có yêu cầu:

+ Đưa phần đất 3.363,4m² thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 9TĐH.1, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương do bà Lê Ngọc S3 (mẹ của bà D) và bà Lê Ngọc A (dì của bà D) đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào diện di sản thừa kế và phân chia theo quy định pháp luật cho những người thừa kế của bà S3 và bà A.

+ Bà Trần Thị Ngọc M bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000.000 đồng, do ngày 25/7/2019, ông X, bà D đã ký hợp đồng đặt cọc và nhận tiền cọc 2.000.000.000 đồng để sang nhượng thửa đất cho ông Ngô Đình B nhưng bà M đã có hành vi khởi kiện nhằm đưa đất vào diện tranh chấp để ngăn cản ông X, bà D bán đất nên đất không thể giao dịch được, ông bà phải hoàn trả tiền cọc 2.000.000.000 đồng và bồi thường 4.000.000.000 đồng cho ông B theo thỏa thuận, đến nay ông bà đã hoàn trả cọc và bồi thường 2.000.000.000 đồng, còn nợ 2.000.000.000 đồng.

- Tại đơn phản tố ngày 16/11/2020, ông X, bà D có yêu cầu bà Trần Thị Ngọc M bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000.000 đồng.

Ngày 18/11/2020, Tòa án ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 10/TB-TA, thông báo cho ông X, bà D nộp tiền tạm ứng án phí nhưng ông bà không thực hiện. Ngày 04/12/2020, Tòa án ra Thông báo trả lại đơn phản tố số 07/TB-TA, thông báo trả lại đơn phản tố của ông X, bà D.

- Tại đơn phản tố ngày 16/11/2020, bà D có yêu cầu: đưa phần đất 3.363,4m² thuộc thửa số 2076 tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương gộp chung với di sản thừa kế của bà S3 là phần đất 21.000m² tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, cụ thể:

+ Giữ lại phần đất khoảng 1.363m² tại khu phố Đ để làm nhà thờ gia đình và do 09 người con của bà S3 đứng tên.

+ Gộp hai di sản thừa kế tại 02 phần đất tại khu phố Đ và khu phố Đ chia theo pháp luật cho 09 người con của bà S3, mỗi phần đất khoảng 2.500m², trị giá khoảng 500.000.000 đồng, ưu tiên phân chia cho người có công quản lý, giữ

và khai thác đất gồm ông K1, ông K3, ông K4, ông K5 và bà D tại khu phố Đ và ưu tiên phân chia đất cho ông K2 tại khu phố Đ.

Ngày 15/6/2022, bà D có đơn đề nghị rút yêu cầu phản tố (bút lục số 284).

- Ý kiến bị đơn ông X:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: trong 21.603,5m² có 2.000m² là đất của ông X. Không đồng ý yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Quang X, đưa phần đất này ra khỏi tài sản thừa kế của bà Lê Ngọc S3.

- Ý kiến bị đơn bà D:

Đồng ý chia đều theo pháp luật diện tích 19.604,4m² ở khu phố Đ, sau khi đã trừ ra diện tích 2.000m² thuộc thửa số 1890 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quang X. Đưa phần đất này ra khỏi phần thừa kế của bà Lê Ngọc S3.

Yêu cầu được nhận hiện vật, ưu tiên được nhận phần đất mà ông X, bà D đang khai thác quản lý sử dụng.

Đối với yêu cầu độc lập của ông K2: Không có ý kiến.

Đối với yêu cầu độc lập của bà O: Không có ý kiến.

Yêu cầu để phần đất của bà A để làm nhà hương hỏa thờ cúng ông bà.

Bị đơn bà Trần Thị Như L trình bày:

Văn bản trình bày ý kiến ngày 22/6/2020: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Ngọc M, giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH25972 do UBND thành phố D cấp ngày 17/6/2019; xem xét hòa giải, giải quyết theo tinh thần ý nguyện tờ di chúc của cha mẹ là ông Trần Đắc Q, bà Lê Ngọc S3 lập để lại cho các con vào ngày 04/8/2009; giữ nguyên hiện trạng diện tích, vị trí đất đai, cây trồng lâu năm hiện có tại khu đất do bà L trực tiếp canh tác quản lý sử dụng, kê khai nộp thuế đầy đủ theo đúng quy định pháp luật từ trước đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K trình bày:

Văn bản trình bày ý kiến ngày 29/4/2020: Thống nhất ý kiến của bà Trần Thị Ngọc M, tại đơn khởi kiện, vì điều kiện địa lý, công ăn việc làm ông K không thể có mặt tại các buổi hòa giải, công khai chứng cứ, làm việc và xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K1 trình bày:

Thống nhất ý kiến của bà Trần Thị Ngọc M.

Đồng ý với yêu cầu chia thừa kế cho bà O và các đồng thừa kế khác gồm 09 người con bà S3 và 09 người con của ông K6 đối với phần tài sản thuộc sở hữu của bà Lê Ngọc A tại thửa đất số 2076, tờ bản đồ số 9 TDH1 có diện tích 3.213,1m².

Đối với kỷ phần ông K1 được nhận thuộc sở hữu của bà Lê Ngọc A, ông K1 đề nghị được gộp vào phần di sản được nhận thuộc sở hữu của bà Lê Ngọc S3 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H010628 cấp cho bà Lê Ngọc S3 và bà Lê Ngọc A ngày 24/11/2009, thành 01 kỷ phần và đề nghị được nhận bằng hiện vật. Đồng thời ông K1 đề nghị xem xét gộp 04 kỷ phần gồm ông K1, bà M, ông K, ông K4 vào một kỷ phần chung khi phân chia di sản.

Đối với yêu cầu độc lập của ông K2: Đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của ông K2, trường hợp kỷ phần ông K2 được hưởng nhiều hơn giá trị kỷ phần được chia thì phải hoàn trả giá trị chênh lệch cho ông K1.

Đối với yêu cầu độc lập của bà O: Đồng ý chia đều.

Yêu cầu để phần đất của bà A để làm nhà hương hỏa thờ cúng ông bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K2 (có yêu cầu độc lập) trình bày:

Ông K2 có yêu cầu: Chia thừa kế phần tài sản chung của bà Lê Ngọc S3 là phần đất 3.213,1m² thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 9TĐH.1 cho ông K2, cụ thể ông K2 được nhận 1.606,5m² (theo bản di chúc bà S3 lập năm 2009), yêu cầu được nhận bằng hiện vật, giá trị tài sản tạm tính 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

Ông K2 đồng ý yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Ngọc D, chừa lại phần diện tích có nhà thờ thuộc quyền sở hữu của bà Lê Ngọc A để thờ cúng ông bà (theo đạo lý) và giao ông K2 đảm trách việc này; ông K2 yêu cầu gộp hai di sản lại và chia làm 09 phần theo pháp luật; yêu cầu chia bằng hiện vật, cụ thể chia cho ông K2 tại vị trí mà ông K2 đang sinh sống, quản lý, gìn giữ và hưởng hoa lợi, vì đó là nguồn sống chính đáng của gia đình ông K2.

Ông K2 yêu cầu tính công sức hơn 30 năm cho ông K2 trên phần di sản của bà Lê Ngọc A, trước khi đem ra chia di sản thừa kế, cụ thể là ông K2 nhận được thêm 12% trên tổng giá trị tài sản; yêu cầu chừa con đường đi vào phần đất mộ, sao cho thuận tiện đi lại, cúng viếng chăm sóc mồ mả; yêu cầu ưu tiên cho hàng thừa kế của bà S3 được hưởng phần đất có nhà thờ, đứng tên đồng sở hữu để dùng vào việc thờ cúng và góp 12% công sức của ông K2 vào yêu cầu trên.

Đối với yêu cầu độc lập của bà O: Đồng ý chia đều, phần được chia thì gộp chung với kỷ phần của bà D, ông K1, ông K5, ông K3 và ông K2 làm đất hương hỏa thờ cúng ông bà của bên nhà bà S3.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K3 trình bày:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc M; xem xét, hòa giải giải quyết theo tinh thần ý nguyện tờ di chúc của ông Trần Đắc Q và bà Lê Ngọc S3 lập ngày 04/8/2009; giữ nguyên hiện trạng diện tích, vị trí đất đai, cây trồng lâu năm hiện có tại khu đất do ông K3 trực tiếp canh tác quản lý sử dụng, kê khai nộp thuế đầy đủ theo đúng quy định pháp luật từ trước đến nay.

Yêu cầu chia thừa kế theo di chúc ngày 04/8/2009 của bà S3 và 09 con đã lập sau khi ông Q chết. Trường hợp không chia theo di chúc thì yêu cầu chia theo pháp luật. Yêu cầu được hưởng phần đất theo vị trí của di chúc. Hiện nay, ông K3 đang quản lý vị trí đất theo di chúc nên đề nghị khi chia thừa kế thì xem xét ưu tiên được nhận phần đất tại vị trí hiện nay có nhà và công trình xây dựng của ông K3.

Đối với yêu cầu độc lập của ông K2: Đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của ông K2, trường hợp kỷ phần ông K2 được hưởng nhiều hơn giá trị kỷ phần được chia thì phải hoàn trả giá trị chênh lệch cho ông K3.

Đối với yêu cầu độc lập của bà O: Đồng ý chia đều.

Yêu cầu để phần đất của bà A để làm nhà hương hỏa thờ cúng ông bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K4 trình bày:

Ông K4 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Trần Đắc K2.

Diện tích đất đo đạc thực tế 3.213,1m² thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 9TDH.1 toạ lại tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3 và Lê Ngọc A. Đối với phần tài sản của bà Lê Ngọc S3 3.213,1m²/2 = 1.606,65m² chia đều cho 09 đồng thừa kế, mỗi kỷ phần được hưởng 178,5m².

Đồng ý với yêu cầu chia thừa kế cho bà O và các đồng thừa kế khác gồm 09 người con bà S3 và 09 người con của ông K6 đối với phần tài sản thuộc sở hữu của bà Lê Thị Ngọc A tại thửa đất số 2076, tờ bản đồ số 9 TDH1 có diện tích 3.213,1m².

Đối với kỷ phần ông K4 được nhận của bà Lê Ngọc A, ông K4 đề nghị được gộp vào phần di sản được nhận của bà Lê Ngọc S3 thành 01 kỷ phần và đề nghị được nhận bằng hiện vật. Đồng thời, xem xét gộp 04 kỷ phần gồm ông K4, bà M, ông K, ông K1 vào một kỷ phần chung khi phân chia di sản.

Không đồng ý để di sản của bà A làm đất hương hỏa thờ cúng ông bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K5 trình bày:

Xem xét, hòa giải giải quyết theo tinh thần ý nguyện tờ di chúc của ông Trần Đắc Q và bà Lê Ngọc S3 lập ngày 04/8/2009; giữ nguyên hiện trạng diện tích, vị trí đất đai, cây trồng lâu năm hiện có tại khu đất do ông K5 trực tiếp canh tác quản lý sử dụng, kê khai nộp thuế đầy đủ theo đúng quy định pháp luật từ trước đến nay.

Yêu cầu chia thừa kế theo di chúc ngày 04/8/2009 của bà S3 và 09 con đã lập sau khi ông Q chết. Trường hợp không chia theo di chúc thì yêu cầu chia theo pháp luật. Yêu cầu được hưởng phần đất theo vị trí của di chúc. Hiện nay, ông K5 đang quản lý vị trí đất theo di chúc nên đề nghị khi chia thừa kế thì xem xét ưu tiên được nhận phần đất tại vị trí hiện nay có nhà và công trình xây dựng của ông K5.

Đối với yêu cầu độc lập của ông K2: Đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của ông K2, trường hợp kỷ phần ông K2 được hưởng nhiều hơn giá trị kỷ phần được chia thì phải hoàn trả giá trị chênh lệch cho ông K5.

Đối với yêu cầu độc lập của bà O: Đồng ý chia đều.

Yêu cầu để phần đất của bà A để làm nhà hương hỏa thờ ông bà.

Thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tài sản, kết quả định giá không yêu cầu xem xét thẩm định và định giá lại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Liên H2 trình bày:

Bà H2 không có liên quan đến phần di sản thuộc thửa đất 2076, tờ bản đồ 9TĐH.1 có diện tích 3.363,4m² theo yêu cầu độc lập của ông Trần Đắc K2 và yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Ngọc D.

Bà H2 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ngọc M.

Kỷ phần bà H2 được hưởng khi Tòa án giải quyết, công nhận, quyết định thì bà H2 nhường (tặng cho) toàn bộ cho bà M. Trường hợp bà H2 chết mà vụ án trên vẫn đang trong quá trình giải quyết, thì bà M cũng là người thừa kế duy nhất tham gia tố tụng của bà H2 và được trọn quyền thừa kế kỷ phần mà bà H2 được hưởng theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Lệ D1 trình bày:

Về quan hệ huyết thống của ông Lê Quan K6, sinh năm 1933 (chết ngày 14/4/1963); ông K6 có vợ là bà Trương Vĩnh Thúy H5, sinh năm 1933 (chết ngày 22/4/2022); ông K6 và bà H5 có 09 người con gồm: bà Lê Thị Lệ D1, sinh năm 1954; bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, sinh năm 1956; bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1957; bà Lê Thị Thu H3, sinh năm 1958; ông Lê Quang S2, sinh năm 1959 (chết ngày 13/7/1981), không có vợ con; ông Lê Quan T1, sinh năm 1960; bà Lê Thị Lệ X2, sinh năm 1961; bà Lê Thị Lệ T2, sinh năm 1963.

Ông Lê Văn T8 sinh năm 1904 (chết năm 1984) và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1909 (chết năm 1986); ông T8, bà Ú có 03 người con gồm: bà Lê Ngọc A, sinh năm 1930 (chết ngày 12/4/2018, không có chồng con); ông Lê Quan K6, sinh năm 1936 (chết ngày 14/4/1963); bà Lê Ngọc S3 sinh năm 1938 (chết ngày 10/10/2015).

Đối với yêu cầu chia thừa kế diện tích đất 3.363,4m² thuộc thửa số 2076 thì yêu cầu được hưởng thừa kế theo quy định pháp luật.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Lệ D1 là ông Nguyễn Minh X1 trình bày:

Đơn trình bày ý kiến ngày 15/7/2020: Bà Lê Thị Lệ D1, sinh năm 1954 (chết ngày 04/7/2022); bà D1 có chồng là ông Nguyễn Minh X1; bà D1, ông X1 không có con chung; đồng ý kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà D1, đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Lệ O (có yêu cầu độc lập) trình bày:

Bà O thống nhất trình bày của bà D1 về quan hệ huyết thống của ông Lê Văn T8, bà Nguyễn Thị Ú và ông Lê Quan K6, bà Trương Vĩnh Thúy H5. Đối với yêu cầu chia thừa kế là phần đất 3.363,4m² thuộc thửa số 2076 của bà D, ông K2, đồng ý nhận phần di sản thừa kế của bà Lê Ngọc A, đề nghị được hưởng phần thừa kế theo quy định pháp luật.

Đơn yêu cầu độc lập ngày 11/01/2023, ngày 30/01/2023, bà O có yêu cầu chia di sản của bà Lê Ngọc A theo quy định pháp luật thành 18 kỷ phần, bà O và những người cháu ruột của bà A, mỗi người được hưởng 89,2m² đất tại thửa đất số 2076, tờ bản đồ số 9, có diện tích 3.213m², kỷ phần bà O được hưởng là 1.780.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh X1 (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Lệ D1), ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quang T9, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2 do bà Lê Thị Lệ O đại diện trình bày:

Đồng ý nhận phần di sản thừa kế của bà Lê Thị Ngọc A để lại (phần di sản có diện tích 3.363,4m² thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ 9TĐH.1, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương) và đề nghị Tòa án xét xử phân chia theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/01/2023, ông T9 có đơn yêu cầu độc lập: Yêu cầu Tòa án tuyên ông T9 được hưởng 100,3m² quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2076, tờ bản đồ 9TĐH.1, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là di sản do bà Lê Ngọc A để lại, hiện do ông K2 chiếm hữu, sử dụng, giá trị tạm tính 100.000.000 đồng. (Đến ngày 30/01/2023, ông T9 có đơn rút yêu cầu (ông T9 chưa đóng tạm ứng án phí).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố D trình bày:

Các Công văn số 2890/UBND-NC ngày 30/12/2022, số 371/UBND-NC ngày 28/02/2023, UBND thành phố D không có ý kiến, đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường T trình bày:

Công văn số 681/UBND-KT ngày 28/11/2023, UBND phường T đề nghị giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật và đề nghị vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải, xét xử.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Đình B trình bày:

Không có liên quan đến vụ án, vì đã thỏa thuận xong với bà D, đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn Đ trình bày:

Đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Quang T5 trình bày:

Thống nhất trình bày của ông X2, bà D, không có yêu cầu gì trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Phương T4, bà Huỳnh Ngọc Thanh T6 trình bày:

Chấp nhận theo phán quyết của Tòa án. Đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoắc Tú M1, cháu Trần Thị Ngọc N1, cháu Trần Ngọc N (vợ con của ông Trần Đắc K3) trình bày:

Theo sự phán quyết của Tòa án. Đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thụy Tuyết T3, cháu Trần Đắc D2, cháu Trần Đắc D3 (vợ con của ông Trần Đắc K4) trình bày:

Thống nhất trình bày của ông K4. Không có yêu cầu gì trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Bích H4, cháu Trần Đắc L1, cháu Trần Nguyệt M2 (vợ con của ông Trần Đắc K2) trình bày:

Thống nhất trình bày của ông K2. Đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu T7 trình bày:

Ông T7 không có quyền lợi liên quan đến đất tranh chấp, không có ý kiến đối với vụ án và yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại bản án dân sự số 14/2024/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, quyết định:

Căn cứ khoản 5, khoản 9 Điều 26, Điều 34, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 147, Điều 153, Điều 157, Điều 165, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

Căn cứ Điều 650, 651, 658, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015,

Căn cứ Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959,

Căn cứ Điều 6, 14 Luật Đất đai năm 1987,

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc M; chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K2; chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Lệ O về việc tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1.1. Đình chỉ xét xử yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Ngọc D.

Đưa phần đất 3.363,4m² thuộc thửa số 2076 tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương gộp chung với di sản thừa kế của bà S3 là phần đất 21.000m² tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, cụ thể:

Giữ lại phần đất khoảng 1.363m² tại khu phố Đ để làm nhà thờ gia đình và do 09 người con của bà S3 đứng tên.

Gộp hai di sản thừa kế tại 02 phần đất tại khu phố Đ và khu phố Đ chia theo pháp luật cho 09 người con của bà S3, mỗi phần đất khoảng 2.500m², trị giá khoảng 500.000.000 đồng, ưu tiên phân chia cho người có công quản lý, giữ và khai thác đất gồm ông K1, ông K3, ông K4, ông K5 và bà D tại khu phố Đ và ưu tiên phân chia đất cho ông K2 tại khu phố Đ.

1.2. Các đồng thừa kế của ông Trần Đắc Q gồm: Bà Trần Thị Liên H2, bà Lê Ngọc S3, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5.

Các đồng thừa kế của bà Lê Ngọc S3 gồm: Ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5.

Các đồng thừa kế của bà Lê Ngọc A gồm: Người thừa kế của bà Lê Thị Lệ D1 là ông Nguyễn Minh X1, bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5.

1.3. Di sản của ông Trần Đắc Q và bà Lê Ngọc S3 gồm:

Quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm diện tích 21.597,6m² (gồm phần đất thuộc thửa số 1839: 17.599m² + thửa số 1890: 2.000m² + thửa số 1915: 1.998,6m²), tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, trị giá 346.490.400.000 đồng, trừ diện tích đường đi 951,5m² (chiều ngang 04m), trị giá 15.190.600.000 đồng, còn lại 20.646,1m², trị giá 331.298.200.000 đồng; trong đó: ½ là di sản của ông Trần Đắc Q, trị giá 165.649.100.000 đồng và ½ di sản của bà Lê Ngọc S3, trị giá 165.649.100.000 đồng.

1.4. Di sản của bà Lê Ngọc S3 và bà Lê Ngọc A gồm:

Quyền sử dụng đất 3.213,1m² (gồm 172,4m² đất ở, 3.040m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 16 (9TDH.1), tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ số AP 642475, số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3, bà Lê Ngọc A, trị giá 72.420.300.000 đồng, trừ diện tích đường đi 426,3m² (chiều ngang 04m), trị giá 9.527.000.000 đồng, còn lại 2.786,8m², trị giá 62.893.300.000 đồng; trong đó ½ là di sản của bà Lê Ngọc S3, trị giá 31.446.650.000 đồng; ½ là di sản của bà Lê Ngọc A, trị giá 31.446.650.000 đồng.

Trích 03% công sức gìn giữ quản lý cho ông Trần Đắc K2 đối với di sản của bà Lê Ngọc A, số tiền 943.399.500 đồng. Di sản của bà Lê Ngọc A còn lại 30.503.250.500 đồng.

1.5. Chia di sản của ông Trần Đắc Q theo quy định pháp luật cho các đồng thừa kế (11 đồng thừa kế) của ông Q gồm: Bà Trần Thị Liên H2, bà Lê Ngọc S3, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5, mỗi kỷ phần được hưởng 15.059.009.090 đồng.

Chia di sản của bà Lê Ngọc S3 theo quy định pháp luật cho các đồng thừa kế (09 đồng thừa kế) của bà S3 gồm: Ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5, mỗi kỷ phần được hưởng 20.078.678.787 đồng + 3.494.072.222 đồng = 23.572.751.009 đồng.

Chia di sản của bà Lê Ngọc A theo quy định pháp luật cho các đồng thừa kế (17 đồng thừa kế) của bà A gồm: Người thừa kế của bà Lê Thị Lệ D1 là ông Nguyễn Minh X1, bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5, mỗi kỷ phần được hưởng 1.794.308.852 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K2, ông Trần Đắc K5 không yêu cầu chia thành từng kỷ phần đối với di sản của bà Lê Ngọc A mà nhập thành tài sản chung.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, ông Trần Đắc K4 không yêu cầu chia thành từng kỷ phần đối với di sản của bà Lê Ngọc A mà nhập thành tài sản chung.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Minh X1, bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2 không yêu cầu chia thành từng kỷ phần đối với di sản của bà Lê Ngọc A mà nhập thành tài sản chung.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đắc K, bà Trần Thị Liên H2 giao toàn bộ kỷ phần của mình được hưởng cho bà Trần Thị Ngọc M và bà Trần Thị Ngọc M không phải thanh toán giá trị kỷ phần được hưởng cho ông Trần Đắc K, bà Trần Thị Liên H2.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Ngọc M về việc nhập kỷ phần được hưởng của ông Trần Đắc K, bà Trần Thị Liên H2 và kỷ phần được hưởng của bà Trần Thị Ngọc M thành một kỷ phần.

Ông Trần Đắc K2 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 1.341,4m² (trong đó có 86,2m² đất ở), thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 16 (9TDH.1), tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ số AP 642475, số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND

huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3, bà Lê Ngọc A (ký hiệu A1).

Bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K2, ông Trần Đắc K5 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 350m² (trong đó có 43,1m² đất ở), thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 16 (9TDH.1), tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ số AP 642475, số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3, bà Lê Ngọc A (ký hiệu A2).

Bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, ông Trần Đắc K4 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 300m² (trong đó có 43,1m² đất ở), thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 16 (9TDH.1), tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ số AP 642475, số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3, bà Lê Ngọc A (ký hiệu A3).

Ông Nguyễn Minh X1, bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 795,4m² đất, thuộc thửa số 2076, tờ bản đồ số 16 (9TDH.1), tọa lạc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo GCNQSDĐ số AP 642475, số vào sổ H010628 ngày 24/11/2009 do UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Lê Ngọc S3, bà Lê Ngọc A (ký hiệu A4).

Bà Trần Thị Ngọc D được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 2.000m² (đất trồng cây lâu năm 1907m², đất ở 93m²) thuộc thửa số 1890, tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B1).

Bà Trần Thị Như L được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 3.215,2m² (có 1.998,8m² thuộc thửa số 1890 + 1.216,5m² thuộc thửa số 1839), tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B11).

Ông Trần Đắc K1 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất 2.133.8m² thuộc thửa số 1839, tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B4).

Bà Trần Thị Ngọc M được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất 6.577,6m² thuộc thửa số 1839, tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B3 diện tích 6.064,3m²; B5 diện tích 513,3m²).

Ông Trần Đắc K4 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất 2.513,3m² thuộc thửa số 1839, tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B6 diện tích 513,3m²; B10 diện tích 2.000m²).

Ông Trần Đắc K5 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất 2.207m² thuộc thửa số 1839, tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B7 diện tích 513,3m²; B9 diện tích 1.693,7m²).

Ông Trần Đắc K3 được quyền quản lý sử dụng quyền sử dụng đất 1.999,2m² thuộc thửa số 1839, tờ bản đồ số 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B8 diện tích 999,2m²; B2 diện tích 1.000m²).

(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5 về việc không yêu cầu giải quyết tài sản trên đất, trường hợp quyền sử dụng đất các đồng thừa kế được hưởng có tài sản của ông Q, bà S3 trên đất được phân chia có trên đất của ai thì người đó được sở hữu và không phải bồi hoàn giá trị tài sản cho đồng thừa kế khác.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, ông Huỳnh Quang X, ông Trần Đắc K2, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5 về việc không yêu cầu giải quyết tài sản trên đất, trường hợp quyền sử dụng đất các đồng thừa kế được hưởng có tài sản của ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, ông Huỳnh Quang X, ông Trần Đắc K2, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5 trên đất được phân chia có trên đất của ai thì các ông bà tự tháo dỡ di dời và không phải bồi hoàn giá trị tài sản cho các ông bà.

Ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, ông Huỳnh Quang X, ông Trần Đắc K2, bà Trương Thị Bích H4, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5, bà Lê Thụy Tuyết T3, bà Hoắc Tú M1 có trách nhiệm tháo dỡ di dời tài sản của mình trên đất để giao đất cho các đồng thừa kế khác.

Ông Trần Đắc K2, bà Trương Thị Bích H4 có trách nhiệm giao đất cho ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5, ông Nguyên Minh X1, bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2 theo kỷ phần được chia và được quyền quản lý sử dụng.

Bà Trần Thị Ngọc D, ông Huỳnh Quang X, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K1, ông Trần Đắc K5, ông Trần Đắc K4, bà Lê Thụy Tuyết T3, bà Hoắc Tú M1 có trách nhiệm giao đất cho bà Trần Thị Ngọc M, bà Trần Thị Như L, theo kỷ phần được chia và được quyền quản lý sử dụng.

Bà Trần Thị Ngọc D, ông Huỳnh Quang X có trách nhiệm tháo dỡ di dời hàng rào và tài sản trên đất để giao đất cho ông Trần Đắc K3 theo kỷ phần được chia và được quyền quản lý sử dụng và đất đường đi.

Bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K2, ông Trần Đắc K5 có trách nhiệm tháo dỡ di dời tài sản trên đất làm đường đi tại thửa số 2076.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K5 có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho ông Trần Đắc K2 mỗi người 64.124.592 đồng (sáu mươi bốn triệu một trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm chín mươi hai đồng).

Bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, ông Trần Đắc K4 có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho ông Trần Đắc K2 mỗi người 122.741.148 đồng (một trăm hai mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).

Ông Nguyễn Minh X1, bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X2, bà Lê Thị Lệ T2 có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho ông Trần Đắc K2 mỗi người 194.191.148 đồng (một trăm chín mươi bốn triệu một trăm chín mươi mốt nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).

Ông Trần Đắc K4 có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đắc K5 giá trị chênh lệch 27.360.099 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi nghìn không trăm chín mươi chín đồng).

Ông Trần Đắc K4 có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị Ngọc L4 560.099 đồng (năm trăm sáu mươi nghìn không trăm chín mươi chín đồng).

Ông Trần Đắc K4 có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đắc K2 632.919.703 đồng (sáu trăm ba mươi hai triệu chín trăm mười chín nghìn bảy trăm lẻ ba đồng).

Bà Trần Thị Ngọc D có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đắc K2 giá trị chênh lệch 1.828.639.901 đồng (một tỷ tám trăm hai mươi tám triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn chín trăm lẻ một đồng).

Bà Trần Thị Ngọc M có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đắc K2 giá trị chênh lệch 1.467.870.712 đồng (một tỷ bốn trăm sáu mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi nghìn bảy trăm mười hai đồng).

Ông Trần Đắc K1 có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đắc K2 giá trị chênh lệch 1.419.039.901 đồng (một tỷ bốn trăm mười chín triệu không trăm ba mươi chín nghìn chín trăm lẻ một đồng).

Ông Trần Đắc K3 có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Đắc K2 giá trị chênh lệch 1.352.239.901 đồng (một tỷ ba trăm năm mươi hai triệu hai trăm ba mươi chín nghìn chín trăm lẻ một đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.6. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 177790, số vào sổ CH25972 ngày 17/6/2019 do UBND thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Trần Thị Như L và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 569411, số vào sổ CH22984 ngày 09/02/2018 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho bà Trần Thị Ngọc D, ông Huỳnh Quang X.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 28 tháng 3 năm 2024, bị đơn bà Trần Thị Ngọc D, ông Huỳnh Quang X làm đơn kháng cáo sửa bản án sơ thẩm.

Ngày 02 - 03 tháng 4 năm 2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K3, Trần Đắc K2, Trần Đắc K5 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm.

Ngày 03 tháng 4 năm 2024, bị đơn Trần Thị Như L kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:

Trong tranh chấp này, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người liên quan, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[I] Về nội dung:

Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo như sau:

- Bị đơn bà Trần Thị Ngọc D và ông Huỳnh Quang X kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL569411 ngày 09/02/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã D cấp cho bà D, ông X đối với thửa đất 1890, tờ bản đồ 23, diện tích 2.000m²; Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ Lê Ngọc S3 là quyền sử dụng đất gồm: 17.599m², thửa 1839, tờ bản đồ 23 (8TDH.A) và 1.998m², thửa 1915, tờ bản đồ 23 (8TDH.A), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T; Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ Lê Ngọc S3 và Lê Ngọc A là quyền sử dụng đất có diện tích 3.213,1m², thửa 2076, tờ bản đồ 16(9TDH1), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, yêu cầu nhận hiện vật.

- Bị đơn bà Trần Thị Như L kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Bản án sơ thẩm đã tính sai kỷ phần thừa kế của bà Trần Thị Liên H2 được hưởng từ cụ Ngô Thị L2 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K3 và ông Trần Đắc K5 kháng cáo cùng nội dung với bà Trần Thị Như L.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K2 kháng cáo toàn bộ bản án, yêu cầu xem xét lại việc chia thừa kế theo pháp luật. Trong đó, có yêu cầu xem xét việc chia thừa kế cho bà Trần Thị Liên H2.

A. Những vấn đề các đương sự đã thống nhất:

1. Về người thừa kế:

- Người thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Trần Đắc Q (sinh năm 1937; chết ngày 29/7/2003) gồm: cụ Lê Thị Ngọc S3, ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5 và bà Trần Thị Liên H2 ( do thừa kế chuyển tiếp từ cụ Ngô Thị L2). Như vậy, thừa kế theo pháp luật cụ Trần Đắc Q có 11 kỷ phần.

- Người thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Lê Ngọc S3 (sinh năm 1938; chết ngày 10/10/2015) gồm: ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5 . Như vậy, thừa kế theo pháp luật cụ Lê Ngọc S3 có 09 kỷ phần.

- Thừa kế theo pháp luật của cụ Lê Ngọc A (sinh năm 1930; chết ngày 12/4/2018) gồm những người thừa kế theo pháp thuộc hàng thừa kế thứ ba: ông Trần Đắc K, ông Trần Đắc K1, bà Trần Thị Ngọc D, bà Trần Thị Như L, ông Trần Đắc K2, bà Trần Thị Ngọc M, ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K4, ông Trần Đắc K5 (con cụ Lê Ngọc S3); ông Nguyễn Minh X1, bà Lê Thị Lệ O, ông Lê Quang P, bà Lê Thị Kim C, bà Lê Thị Thu H3, ông Lê Quan T1, bà Lê Thị Lệ X4, Lê Thị Lệ T2 (con cụ Lê Quan K6). Thừa kế theo pháp luật cụ Lê Ngọc A có 17 kỷ phần.

2. Về di sản thừa kế:

- Quyền sử dụng đất diện tích 3.213,1m², thửa 2076, tờ bản đồ 16(9TDH.1), tọa lạc tại khu phố Đ, phường T. Các đương sự thống nhất là tài sản chung của cụ Lê Ngọc S3 và cụ Lê Ngọc A, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 642475 ngày 24/11/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp cho cụ Lê Ngọc S3 và cụ Lê Ngọc A, trị giá 72.420.300.000 đồng. Như vậy, đây là quyền sử dụng đất là di sản của cụ Lê Ngọc S3, trị giá ½ được chia cho 09 kỷ phần và cụ Lê Ngọc A trị giá ½ được chia cho 17 kỷ phần.

- Quyền sử dụng đất diện tích 17.599m², thửa 1839, tờ bản đồ 23(8TDH.A), chưa được cấp quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất có diện tích 1.998m², thửa 1915, tờ bản đồ 23(8TDH.A); đã cấp quyền sử dụng cho bà

Trần Thị Như L, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 177790 ngày 17/6/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố D tại khu phố Đ, phường T. Các đương sự thống nhất là di sản thừa kế của cụ Trần Đắc Q và cụ Lê Ngọc S3, đồng ý chia thừa kế theo pháp luật.

3. Đối với tài sản trên đất (là di sản thừa kế) các đương sự thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án giao quyền sử dụng đất cho ai thì người đó có quyền được hưởng tài sản trên phần đất đó mà không phải hoàn trả giá trị.

Về chi phí ma chay, thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (khoản nợ: không có) không yêu cầu Tòa án giải quyết.

B. Những vấn đề các đương sự không thống nhất:

1. Về di sản thừa kế:

- Quyền sử dụng đất diện tích 2.000m², thửa đất 1890, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T được cấp quyền sử dụng cho bà D, ông X4 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL569411 ngày 09/02/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã D. Bị đơn là bà D, ông X4 xác định là tài sản riêng của ông, bà, không phải di sản thừa kế của cụ Trần Đắc Q và cụ Lê Ngọc S3, nên không đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản này. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cho rằng quyền sử dụng đất là di sản cụ Trần Đắc Q và cụ Lê Ngọc S3 nên yêu cầu chia chia thừa kế theo pháp luật.

2. Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự như sau:

2.1. Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Ngọc D và ông Huỳnh Quang X cho rằng, quyền sử dụng đất diện tích 2.000m², thửa đất 1890, tờ bản đồ 23 không phải là di sản thừa kế của cụ Trần Đắc Q và cụ Lê Ngọc S3:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm thì đất có nguồn gốc của Trần Đắc Q và cụ Lê Ngọc S3. Bà Trần Thị Ngọc D và ông Huỳnh Quang X cho rằng hai cụ đã chuyển nhượng phần đất nêu trên cho ông, bà và cung cấp chứng cứ để chứng minh là “Giấy nhượng đất cho con 29/3/1990” có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T theo xác nhận số 250/XN ngày 05/4/1990. Ngày 09/02/2018, ông X, bà D đã kê khai, đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất này.

Bà Trần Thị Ngọc M có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của cụ Q và cụ S3 trên giấy sang nhượng đất. Kết quả giám định thể hiện, tại Kết luận giám định số 378/KL-KTHS ngày 25/9/2022 và số 496/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của Phòng K7 Công an tỉnh B thì chữ ký, chữ viết của cụ Q và cụ S3 trên giấy sang nhượng đất không phải của hai cụ. Tuy nhiên, tại Kết luận giám định số 263/KL-KTHS ngày 15/9/2023 của V Bộ C1 lại kết luận chữ ký, chữ viết của cụ Q và cụ S3 trên giấy sang nhượng đất là của hai cụ. Như vậy, giám định về cùng một vấn đề nhưng nội dung kết luận lần đầu và nội dung kết luận giám định lại của hai cơ quan giám định là khác nhau và có sự mâu thuẫn. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Giám định Tư pháp năm 2012 thì, “Trong trường

hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện”. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông X, bà D có yêu cầu giám định lại.

Xét thấy, theo quy định của Luật Đất đai thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cụ Q, cụ S3 đã phát sinh hiệu lực. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng việc chuyển nhượng đất không đúng quy định của Luật Đất đai năm 1987, tại thời điểm chuyển nhượng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu là không phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về điều kiện công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

2.2 Ở trường hợp này, để có căn cứ xác định bản chất của tranh chấp thì cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ quá trình sử dụng đất của ông D, bà X kể từ khi nhận chuyển nhượng năm 1990, trong quá trình sử dụng, có tranh chấp với cụ Q, cụ S3 và những người thừa kế khác của Q và cụ S3 hay không? Phải xác minh để làm rõ nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T theo xác nhận số 250/XN ngày 05/4/1990 có đúng thực tế không? Việc Giám định có 02 kết quả khác nhau và mâu thuẫn, vì vậy cần phải trưng cầu giám định lại và phải do Hội đồng giám định thực hiện. Từ đó, mới có đủ cơ sở để đánh giá hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng và làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Do việc đánh giá quyền sử dụng đất diện tích 2.000m², thửa đất 1890, tờ bản đồ 23 là di sản thừa kế của cụ Trần Đắc Q và cụ Lê Ngọc S3 hay không, bên cạnh đó nó còn là di sản ảnh hưởng trực tiếp việc phân chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ vụ án nên cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.

2.3. Bị đơn bà Trần Thị Như L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Trần Đắc K3, ông Trần Đắc K5, ông Trần Đắc K2 kháng cáo có cùng nội dung, đề nghị xem xét lại việc chia thừa kế theo pháp luật cho bà Trần Thị Liên H2 được hưởng một kỷ phần là không đúng. Xét thấy:

Các đương sự thừa nhận, cụ Trần Đắc Q chết ngày 29/7/2003 và cụ Lê Ngọc S3 chết ngày 10/10/2015. Như vậy, thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ Q và cụ S3 là khác nhau theo quy định của pháp luật.

Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ Q là năm 2003. Người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ nhất của cụ Q gồm: cụ S3, 09 người con chung của cụ Q với cụ S3 và mẹ cụ Q là cụ Ngô Thị L2 (cụ Ngô Thị L2 sinh năm 1914, chết năm 2007). Cụ L2 có 02 người con là cụ Q và bà Trần Thị Liên H2, sinh năm 1933. Do đó, bà Trần Thị Liên H2 được thừa kế 01 kỷ phần của cụ L2. Cụ Q là người để lại di sản, cụ L2 là người hưởng di sản nên 09 người con của cụ Q không thể là người thừa kế thế vị của cụ Q đối với phần di sản cụ L2 được hưởng từ cụ Q. Như vậy, thừa kế theo pháp luật của cụ Q có 11 kỷ phần đúng như Tòa án sơ thẩm xác định.

Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm gộp chung và chia di sản của cụ Q cùng thời điểm với việc chia di sản của cụ S3 là không đúng quy định pháp luật về thời điểm mở thừa kế và chia thừa kế theo pháp luật.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn trình bày: sau khi nhận đất vào năm 1990, họ đã tiếp quản, quản lý và sử dụng đất; đồng thời đã xây dựng nhà ở và trồng hoa màu trên đất cho tới nay. Tuy nhiên, khi giải quyết và xác định diện tích đất này là di sản thừa kế, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản, Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét đến công sức quản lý, gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị di sản của phía bị đơn là thiếu sót, chưa triệt để. Thiếu sót này đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

[III] Như đã nhận định, do trong quá trình giải quyết tranh chấp này, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ, một số chứng cứ được dùng làm căn cứ đánh giá còn mâu thuẫn; giải quyết chưa triệt để...Điều này đã có ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, vì vậy cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

[IV] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[V] Do hủy án sơ thẩm để giải quyết lại, vì vậy các đương sự có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

2. Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm được giải quyết lại trong quá trình xét xử sơ thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: H6 lại cho ông/bà Trần Đắc K3, Trần Thị Như L, Trần Đắc K5, Trần Đắc K2, Trần Thị Ngọc D, Huỳnh Quang X 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000145, 0000144, 0000143 ngày 15/4/2024, 0000142, 0000141 ngày 12/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: DS, VP, 216TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 679/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 679/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger