Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Bản án số: 679/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/11/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thẩm phán.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng
  2. Ông Nguyễn Văn Vĩ

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 274/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về người trực tiếp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim T, sinh năm 1990; (Có mặt)

Nơi đăng ký HKTT: 11/615/3 Nguyễn Văn C, tổ A, phường B, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã N, thành phố Hà Nội;

Bị đơn: Anh Đặng Tuấn K, sinh năm 1981; (vắng mặt)

Nơi đăng ký HKTT: 11/615/3 Nguyễn Văn C, tổ A, phường B, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã N, thành phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 12/9/2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Nguyễn Kim T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Tuấn K được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 06/11/2008 tại trụ sở UBND phường G, quận L, thành phố Hà Nội nay là phường B, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại tổ A, phường B, thành phố Hà Nội. Đến năm 2019 chị và anh K chuyển đến sống tại thôn T, xã N, thành phố Hà Nội. Anh chị đã đăng ký tạm trú theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh K thường xuyên chơi bời, rượu chè, đi sớm về muộn không quan tâm chăm sóc gia đình, không có trách nhiệm với vợ con. Anh chị đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không thành nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh K.

- Về con chung: Chị và anh K có 03 con chung là Đặng Xuân H, sinh ngày 18/8/2009; Đặng Thu T1, sinh ngày 03/6/2015 và Đặng Xuân T2, sinh ngày 21/8/2018. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu H và cháu T2 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Tuấn K đã được tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh K vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, không gửi bản tự khai và bất cứ tài liệu chứng cứ gì. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương đến địa chỉ anh K đăng ký tạm trú nhưng anh K vắng nhà nên Tòa án không ghi được lời khai của anh đối với các yêu cầu khởi kiện của chị T và không tiến hành hòa giải cho anh chị được.

Tại phiên tòa: Chị T giữ nguyên ý kiến như đã trình bày và không thay đổi, bổ sung gì.

Sự diễn biến Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án, giao thông báo thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ và đúng quy định pháp luật; Vụ án được giải quyết đúng thời hạn; Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, phiên tòa diễn ra đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX quyết định:

  • Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh K.
  • Về con chung: Giao cháu Đặng Thu T1, sinh ngày 03/6/2015 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Đặng Xuân H, sinh ngày 18/8/2009 và cháu Đặng Xuân T2, sinh ngày 21/8/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc các bên tự thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị tòa án giải quyết. Chị T và anh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
  • Về tài sản chung, về bất động sản là nhà ở, quyền sử dụng đất, đất sản xuất nông nghiệp, tài sản riêng, về công sức, về nợ: anh chị không yêu cầu chia tài sản nên không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: chị T phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP . nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về việc ly hôn và nuôi con. Bị đơn trong vụ án là anh Đặng Tuấn K, sinh năm 1981 hiện cư trú tại thôn T, xã N, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

Anh Đặng Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh K.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim T và anh Đặng Tuấn K được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 06/11/2008 tại trụ sở UBND phường G, quận L, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91 ngày 06/11/2008 của UBND phường G) nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K. Anh K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai cũng như bất cứ tài liệu chứng cứ gì. Tòa án đã phối hợp cùng chính quyền địa phương đến nơi cư trú của anh K nhưng anh không có nhà nên Tòa án không ghi được lời khai của anh.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm, vun đắp hạnh phúc, làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cũng như trình bày của đương sự được biết: Vợ chồng anh chị đã không còn gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mặc dù anh chị đã tự hòa giải nhưng quan hệ vợ chồng không cải thiện được, chị T cho biết vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Bản thân anh K không chủ động, tích cực bảo vệ cuộc hôn nhân của mình, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự, không chấp hành các giấy triệu tập của tòa án và không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án không tổ chức hòa giải cho anh chị được. Đến nay chị T vẫn kiên quyết xin ly hôn anh K. Như vậy có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh K là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị T và anh K có 03 con chung là Đặng Thu T1, sinh ngày 03/6/2015; Đặng Xuân H, sinh ngày 18/8/2009 và Đặng Xuân T2, sinh ngày 21/8/2018. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và cháu T2 để anh K nuôi cháu T1. Xét nguyện vọng nuôi con của chị Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của người làm cha, làm mẹ nên nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của chị là hoàn toàn chính đáng. Đồng thời việc giao cháu H và cháu T2 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các con chung, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được Tòa án chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung chị T, anh K không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn là chị Nguyễn Kim T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 3, 8, 9, 51, 58, 71, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Kim T, cho chị Nguyễn Kim T, được ly hôn anh Đặng Tuấn K.
  2. Về con chung: Xác định chị Nguyễn Kim T và anh Đặng Tuấn K có 03 con chung là Đặng Xuân H, sinh ngày 18/8/2009, Đặng Xuân T2, sinh ngày 21/8/2018 và Đặng Thu T1, sinh ngày 03/6/2015.

    Giao con chung Đặng Xuân H và Đặng Xuân T2 cho chị Nguyễn Kim T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Đặng Thu T1 cho anh Đặng Tuấn K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án thay thế.

    Chị Nguyễn Kim T và anh Đặng Tuấn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Kim T và anh Đặng Tuấn K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Kim T và anh Đặng Tuấn K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/25E số 0009959 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Kim T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đặng Tuấn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 7- Hà Nội;
- Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
- UBND phường Bồ Đề, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn số 91 ngày 06/11/2008 của UBND phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội);
- Lưu: Văn Phòng, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN _ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Thu Trang
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 679/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 679/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger