|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 678/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-8-2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Mỹ Kiều.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Liên
- Bà Lê Phi Yến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2024/HNST ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 485/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 328/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H – sinh năm 1983; Địa chỉ: 118/90/31 đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình D – sinh năm 1980; Địa chỉ: 118/90/31 đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đơn phương ly hôn đề ngày 25/3/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Phạm Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Đình D chung sống từ vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2010 ngày 05/01/2010). Sau khi kết hôn, hai bên chung sống tại dân xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình sau đó chuyển tới địa chỉ số 118/90/31 đường P, Phường A, quận B. Bà và ông D chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Khoảng hai, ba năm nay, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng nhiều. Gia đình hai bên và bạn bè đã cố gắng khuyên nhủ, hòa giải nhưng không thành. Bà và ông D đã ly thân một năm nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông D và muốn ổn định cuộc sống để lo cho con nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T – sinh ngày 27/11/2010 và Nguyễn G – sinh ngày 20/10/2012. Bà Phạm Thị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Đình D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có.
Bị đơn, ông Nguyễn Đình D mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để cung cấp lời khai, thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì về vụ án.
Tại phiên tòa, bà Phạm Thị H vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông D vì vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục. Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Ngọc Bảo Trâm – sinh ngày 27/11/2010 và Nguyễn Gia Hưng – sinh ngày 20/10/2012, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có.
Ông Nguyễn Đình D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.
- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Yêu cầu của bà H là có cơ sở, phù hợp pháp luật, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Phạm Thị H nộp đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Đình D. Ông D hiện đang cư trú tại 118/90/31 đường P, Phường A, quận B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:
Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai, ông Nguyễn Đình D vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Đình D.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh K, tỉnh Thái Bình cấp ngày 05/01/2010 thì quan hệ hôn nhân của bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Đình D là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo bà H trình bày: Trong quá trình chung sống, ông D không quan tâm chăm sóc gia đình. Bà H cùng người thân đã cố gắng khuyên nhủ ông D thay đổi, cùng khắc phục mâu thuẫn nhưng không được khiến cho mâu thuẫn vợ chồng càng gay gắt. Cả hai đã ly thân cả năm nay nên khó có cơ hội hàn gắn tình cảm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có công văn gởi Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Tân Bình để xác minh về mâu thuẫn gia đình giữa bà H và ông D. Tuy nhiên Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Tân Bình trả lời không có thông tin về mâu thuẫn gia đình giữa bà H và ông D.
Xét thấy, trong quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông D không còn sự quan tâm, chia sẻ và tôn trọng nhau, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Phía bà H kiên quyết xin ly hôn, ông D không có mặt khi Tòa án triệu tập và cũng không có bất cứ ý kiến trình bày nào đối với yêu cầu ly hôn của bà H, thể hiện ông D không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ nên chấp nhận.
[2.2] Về quan hệ con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T – sinh ngày 27/11/2010 và Nguyễn G – sinh ngày 20/10/2012. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy trẻ T và trẻ G hiện đang sống chung với mẹ, đang trong độ tuổi phát triển và có nhiều thay đổi về tâm sinh lý nên cần sự chăm sóc của người mẹ, sự ổn định về nơi ở, học tập và ổn định về tâm lý. Hơn nữa trẻ Trâm và trẻ Hưng cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Phía ông D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có bất cứ yêu cầu nào về việc nuôi dưỡng con chung. Do vậy, căn cứ vào Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà H là có căn cứ chấp nhận. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông D do bà H không có yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có. Ông D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến về tài sản chung và tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Phạm Thị H:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đình D.
- Về quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao trẻ Nguyễn Ngọc Bảo T – sinh ngày 27/11/2010 và Nguyễn G – sinh ngày 20/10/2012 cho bà Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Đình D không cấp dưỡng nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Ông Nguyễn Đình D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được cấn trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí do bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001540 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo:
Bà Phạm Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Đình D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Mỹ Kiều |
Bản án số 678/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 678/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu ly hôn với ông D. Ông D vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng. Chấp nhận yêu cầu của bà H
