Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 678/2025/HS-PT

Ngày: 19-12-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp

Ông Trần Văn Nhum

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên Tòa:

Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 430/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Huỳnh T1, Đào Văn S.

Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Trọng T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 tại Thanh Hóa; tên gọi khác: Tâm Quắn; nơi cư trú: ấp T, xã L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng H và bà Nguyễn Thị C; Bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không.
  2. Nhân thân: Ngày 23/9/ 2008 Tòa án nhân dân tối cao. Tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 14 năm tù về tội giết người (Bản án số 1062/HSPT) Chấp hành án xong vào ngày 27/6/2018.

    Bị bắt theo lệnh truy nã từ ngày 26/7/2024 đến ngày 29/7/2024 tạm giam cho đến nay (có mặt).

2

  1. Phạm Huỳnh T1, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1997 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Ú; Nơi cư trú: ấp D, xã L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước); chỗ ở hiện tại: ấp F, xã L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Huỳnh Thị Ngọc Á; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1999. Có 02 người con; lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: không;
  2. Bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 26/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, cho bảo L1.

  3. Đào Văn S, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2002 tại Bạc Liêu; Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, tỉnh Cà Mau (địa chỉ cũ: ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau); Nơi ở hiện tại: ấp T, xã L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: ấp T, xã L,huyện L, tỉnh Bình Phước); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ Dân tộc: Khơ Me; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào T2 và bà Tăng Thị H1; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: không.
  4. Bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 13/01/2024 tạm giam đến ngày 26/7/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/01/2024 tiếp nhận tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một số đối tượng điều khiển xe mô tô vận chuyển các bao tải nghi là pháo nổ. Đội CSĐTTP về TTQLKT-CV Công an huyện L phối hợp cùng Công an xã L, Chi Cục Hải Quan cửa khẩu Quốc tế H3, Đội Quản Lý thị trường số E tỉnh Bình Phước, Ban chỉ đạo 389 tỉnh Bình Phước tiến hành phân chia lực lượng tuần tra trên tuyến đường thuộc ấp H xã L phát hiện có 3 thanh niên điều khiển xe mô tô chở các bao tải màu trắng có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra, nhưng các đối tượng không chấp hành mà bỏ chạy, tổ công tác truy đuổi thì đối tượng vứt bỏ các bao tải xuống đường. Quá trình truy đuổi liên tục đến 14 giờ 50 phút bắt được Đào Văn S, sau đó đưa S quay trở lại nơi đã vứt hai bao tải màu trắng để kiểm tra phát hiện bên bên trong bao tải có 32 khối hình hộp chữ nhật (nghi là pháo nổ) nên tiến hành lập biện bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ vật chứng gồm 01 xe mô tô màu đỏ, đen nhãn hiệu HonDa Blade không biển số; 01 điện thoại di động hiệu Remid 9C; 32 khối hình hộp chữ nhật (nghi là pháo nổ).

Ngày 05/01/2024, Lê Anh H2 đến Công an xã L đầu thú, ngày 17/01/2024 Nguyễn Văn A đến Công an huyện L đầu thú, ngày 18/01/2024 Phạm Huỳnh T1 đến Công an huyện L đầu thú và khai nhận về hành vi vận chuyển hàng cấm.

Trong biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, Lê Anh H2, và Nguyễn Văn A, đã khai nhận hành vi vận chuyển hành cấm (pháo) cho Nguyễn Trọng T (Bút lục số 228, 230, 231). T1 khai sau khi nhận điện thoại của T, T1 đã đã gọi người để vận chuyển hàng cấm cho T. Sau khi T đến địa điểm nhận pháo T1 đi về trước. T có nhờ T1 để ý nếu trên đường không có lực lượng chức năng sẽ thông báo cho T biết để T cùng các đối tượng khác vận chuyển hàng cấm (pháo) sẽ không bị phát hiện.

3

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vào ngày 04/1/2024 có sự chứng kiến của Đào Văn S, đồng thời trên cơ sở lời khai của Lê Anh H2, ngày 06/01/2024 tiếp tục khám nghiệm hiện trường (có sự chứng kiến của Lê Anh H2) là đoạn đường thuộc ấp H xã L, quá trình khám nghiệm có chụp ảnh, vẽ sơ đồ và thu giữ tang vật là toàn bộ số pháo bị vứt lại trên đoạn đường, niêm phong có sự chứng kiến của Lê Anh H2 và đưa đi giám định.

Căn cứ kết luận giám định: số 44/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu ký hiệu là M1-1, M1-2, M2-1, M2-2, M5-1, M7-1, được niêm phong gửi đi giám định đều là pháo nổ ( pháo hoa nổ), có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, phát ra ánh sáng nhiều màu sắt, tổng khối lượng lần lượt là M1-1=24,5kg; M1-2=24,75kg; M2-1=27,15kg; M2-2=24,70kg; M5-1=23,80kg; M7-1=32,65kg.

Mẫu ký hiệu M3-1, M4-5, M6-1 được niêm phong gửi đi giám định đều là pháo nổ, có chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn, tổng khối lượng lần lượt là M3-1=4,25kg; M4-5=13,10kg; M6-1=4,35kg.

Kết luận giám định: số 45/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 32 khối hình hộp có cùng kích thước (17,0x17,0x10,0)cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau thành khối (ký hiệu là M) được niêm phong gửi đi giám định đều là pháo nổ ( pháo hoa nổ), có chứa thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng nhiều màu sắt, tổng khối lượng là 54,75kg.

Trên cơ sở lời khai của Đào Văn S, Phạm Huỳnh T1, Lê Anh H2 và Nguyễn Văn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ban hành quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đào Văn S, Phạm Huỳnh T1, Lê Anh H2, Nguyễn Văn A và Nguyễn Trọng T.

Ngày 09/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ban hành quyết định truy nã đối với Nguyễn Trọng T cho đến ngày 26/7/2024 T bị bắt theo lệnh truy nã.

Quá trình điều tra, các bị cáo Đào Văn S, Phạm Huỳnh T1, Lê Anh H2 và Nguyễn Văn A khai nhận hành vi vận chuyển hàng cấm, trong đó Đào Văn S, Lê Anh H2 và Nguyễn Văn A là người trực tiếp sử dụng xe mô tô mỗi người chở 2 bao tải bên trong chứa pháo với tiền công mỗi bao là 500.000đ. Người thuê vận chuyển là T.

4

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai đã tuyên xử:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Huỳnh T1, Đào Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, Điều 17, 50, 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 07 (bảy) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 26/7/2024.
  3. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, Điều 17,50 58, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Phạm Huỳnh T1 06 (sáu) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày bắt đi chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 26/7/2024.

Xử phạt Đào Văn S 06 (sáu) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đên ngày 26/7/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng vụ án; án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/8/2025, bị cáo Nguyễn Trọng T kháng cáo kêu oan. Bị cáo không thuê ai vận chuyển pháo và cũng không phải là người trực tiếp vận chuyên pháo.

Ngày 03/9/2025, bị cáo Phạm Huỳnh T1 kháng cáo kêu oan, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai minh oan cho bị cáo.

Ngày 04/9/2025, bị cáo Đào Văn S kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm: Tòa sơ thẩm áp dụng đúng tội danh, khung hình phạt và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Đối với Giấy khám sức khoẻ của Bệnh viện Đ1 ngày 09/01/2024 do Phạm Huỳnh T1 cung cấp có dấu hiệu của hành vi làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức, sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức nên đề nghị Toà án chuyển Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ làm rõ và xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Đối với một số tồn tại ở hồ sơ về lỗi đánh máy hoặc ghi nhầm tên (BL 342 ĐTV đã ghi L là Trận, BL 365 ghi nhầm Văn Anh là H2, BL 594 ghi Văn Anh nhưng nhầm là V, BL 600 ghi nhầm ông Lê Thành L2 thành Phan Thành L3) không làm thay đổi bản chất vụ án nên sẽ tổng hợp kiến nghị chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

5

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Trọng T trình bày bị cáo không thuê người vận chuyển pháo và cũng không phải là người trực tiếp vận chuyển pháo. Bị cáo Phạm Huỳnh Tiến trình B bị cáo bị điều tra viên ép cung; không kêu Sáng đi chở pháo cho T; bị cáo không thực hiện hành vi canh đường giúp cho T vận chuyển pháo. Bị cáo S thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã tuyên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo đều khẳng định không có bất kỳ mâu thuẫn gì với nhau.

Tại phiên toà phúc thẩm đã triệu tập những người chứng kiến và những người có thẩm quyền trực tiếp truy bắt và thực hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/01/2024.

HĐXX thấy rằng: Trên cơ sở các tài liệu thu thập trong quá trình điều tra, biên bản về việc kiểm tra tin nhắn, các cuộc điện thoại được lập vào ngày 18/01/2024 đối với Phạm Huỳnh T1 có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị N thể hiện (bút lục 275, 276-280); Trong ngày 04/01/2024, ngoài một số cuộc gọi cho các số thuê bao khác, T và T1 có gọi cho nhau 10 cuộc, 01 cuộc giữa T1 và Sáng, 01 cuộc giữa T1 và H2.

Số điện thoại T sử dụng là 0961.277.xxx, số điện thoại T1 sử dụng là 037915992, Nội dung cuộc gọi T1 giải trình trình cụ thể:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 04/01/2024 thì T1 nhận được điện thoại của Nguyễn Trọng T có nội dung T kêu T1 đi vận chuyển pháo cho T thì T1 đồng ý. Sau đó, T1 rủ S “Lên đáy cá chơi có gì phụ anh T chở pháo” thì S đồng ý. Trước khi T1 nhận điện thoại của T thì có Đào Văn Đ là anh ruột của S đến nhà T1 chơi lúc Đ đến khoảng 09 giờ và Đ buồn ngủ nên ngủ tại nhà T1. Sáng thì đang phụ T1 làm rào chắn không cho gà lên nhà của T1. T1 kêu Đ dậy rủ Đ đi lên đáy cá chơi thì Đ đồng ý.

T1 kêu S đi trước còn T1 điều khiển xe mô tô biển số: 61N1- 056.50 chở theo Đ đi từ nhà ở ấp F, L lên đường biên giới Việt Nam - Campuchia. Đến khoảng 12 giờ 55 phút cùng ngày, T tiếp tục gọi điện cho T1 nói: “em ơi ở trên đó có ai chạy chở pháo không, bên anh có mấy người rồi em kiếm dùm anh hai người đi”, T1 trả lời: “có thằng em cũng rảnh để em hỏi nó coi nó có làm được không, rồi em trả lời cho”. khoảng 2 phút sau, T gọi cho T1 nói “Anh đang chạy vô nè, sao rồi em”, T1 trả lời: “từ từ để em gọi cho nó”. Đến 13 giờ 08 phút cùng ngày, T1 gọi cho T nói: “Anh đi tới đâu rồi”, T trả lời: “Anh vô gần tới cột mốc rồi” sau đó T1 tắt máy. Đến 13 giờ 11 phút cùng ngày, T1 gọi cho

6

Lê Anh H2 rủ H2 đi chở pháo thuê cho T và nhờ H2 rủ thêm một người nữa để chở pháo cho T thì H2 đồng ý.

Sau khi nghe điện thoại của T1 thì H2 ngồi tại chòi khoảng 10 phút thì có Nguyễn Văn A (tên thường gọi là T3) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, không biển số đến chỗ H2, tại đây H2 rủ Nguyễn Văn A đi chở pháo thuê cho T thì Nguyễn Văn A đồng ý. Sau đó, H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias, màu trắng, cam, biển số: 83P1-519.32 còn Anh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh đi lên cột mốc 66. Đến 13 giờ 40 phút cùng ngày, S gọi cho T1 hỏi “Anh đang ở đâu, em đang ở cột mốc chờ anh T nè”, T1 trả lời: “Anh đang chạy lên cũng gần tới rồi, có gì xíu anh chạy vô, ở đâu”, S nói: “em ở cột mốc gần chỗ bảy người chết”. Đến 13 giờ 42 phút cùng ngày, T1 gọi điện cho T hỏi T có người xuống chưa để T1 gọi điện kêu xuống. Đến 13 giờ 57 phút, S tiếp tục gọi cho T1 hỏi “Ủa anh đâu rồi sao không thấy” T1 trả lời: “Anh đang chạy vô gần tới rồi” sau đó T1 tắt máy. T1 tiếp tục chở Đ chạy vào cột mốc 66. Khi đến nơi T1 gặp Sáng. Khoảng 3 phút sau có H2 và Nguyễn Văn A cũng điều khiển xe mô tô đến cột mốc 66. (bút lục số 275, 276)

Tại đây Sáng, T1, Đ, H2, Anh cùng chạy qua cột mốc số 66 khoảng 100m rồi dừng lại tại một chòi lá của người Campuchia (không có người ở) thì Nguyễn Trọng T và 01 (một) người đàn ông đội mũ lưỡi trai màu tím, đeo khẩu trang, một 01 người đàn ông chạy xe hiệu Honda Blade màu đỏ - đen không biển số (không rõ nhân thân, lai lịch) cũng chạy đến chòi lá. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, có người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi từ hướng cột mốc 66 đến chòi lá thuộc địa phận Campuchia thì T ra nói chuyện. Khoảng 10 phút sau có 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi từ phía Campuchia mang nước uống đến gặp T nói chuyện và đưa nước cho cả nhóm uống. Lúc này, T1 nói với T “thôi em chạy về” thì T nói “sẵn chạy về coi có Công an không coi đường dùm anh với”, T1 nghe và đồng ý rồi T1 điều khiển xe mô tô chở Đ đi theo đường tiểu ngạch về Việt Nam.

Sau đó người đàn ông chạy xe hiệu Honda Blade màu đỏ - đen không biển số gặp S và nói là bị ông đốt và do đường xấu nên muốn đổi xe với S, S đồng ý và đổi xe với người đàn ông này, sau khi đổi xe người đàn ông chạy về trước. Lúc này, T, S, H2, A, người đàn ông đeo khẩu trang, đội nón tím ngồi đợi đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày T kêu cả nhóm quay lại cột mốc 66 rồi T chạy trước. Sau đó H2 kêu Sáng và những người còn lại quay trở lại cột mốc 66 đợi pháo. Khoảng 5 phút sau có 01 chiếc xe ô tô 7 chỗ (xe Campuchia không rõ biển số) chạy từ Campuchia đến và dừng tại cột mốc 66, người đàn ông (không rõ họ tên) bước xuống mở cửa sau xe ô tô ra, cả nhóm thấy bên trong có các bao tải đựng pháo. Lúc này, T, S, H2, A và người đàn ông đeo khẩu trang, đội nón tím đi đến sau xe ô tô để đưa pháo xuống. T là người bốc 02 bao tải màu xanh trên xe ô tô xuống chất lên yên sau xe mô tô của T rồi T tiếp tục lấy hai bịch màu trắng bên trong chứa pháo bi, một bao chất lên hai

7

bao tải màu xanh rồi buộc dây thun lại còn bao pháo bị T để trên ba ga xe mô tô phía trước.

Sau đó, đến lượt Sáng bốc 02 bao tải màu trắng (bên trong chứa pháo nổ loại 49 viên) từ trên xe ô tô xuống rồi để lên yên sau xe mô tô của S rồi lấy dây ràng (thun) buộc lại rồi S tiếp tục lấy 01 bịch pháo bi màu trắng từ trên xe ô tô rồi để ở ba ga trước xe mô tô, cùng lúc H2 cũng bưng hai bao tải màu xanh (bên trong chứa pháo loại 49 viên) từ trên xe ô tô xuống bỏ lên yên sau xe mô tô của H2 rồi dùng dây thun buộc hai bao tải lại, tiếp theo đến lượt người đàn ông đeo khẩu trang, đội nón tím bưng hai bao tải màu xanh từ trên xe ô tô bỏ lên yên sau xe mô tô của người đàn ông rồi tiếp tục bưng 02 bịch pháo bị bỏ lên ba ga phía trước xe mô tô rồi đến lượt Nguyễn Văn A bưng hai bao tải màu xanh từ trên xe ô tô xuống bỏ lên yên sau xe mô tô của Văn A.

Sau khi chất pháo xong, T gọi điện cho T1 hỏi trên đường có Công an không để T cùng đồng bọn chở pháo ra thì T1 trả lời không có ai nên T điều khiển xe mô tô chở 04 bao pháo chạy trước rồi đến lượt H2 điều khiển xe mô tô chở hai bao pháo chạy sau, tiếp theo đến lượt Sáng cũng điều khiển xe mô tô chở pháo chạy phía sau rồi đến lượt người đàn ông đeo khẩu trang, đội nón tím chạy phía sau cuối cùng là Nguyễn Văn A chạy phía sau cùng. Cả nhóm cùng di chuyển từ cột mốc 66 thuộc ấp H, xã L về hướng UBND xã L. Khi đi đến đoạn đường nhựa thuộc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước Sáng nhìn ra phía sau thì thấy 02 người đàn ông đang điều khiển xe mô tô đuổi theo phía sau, S la lên: “có người dí theo anh ơi” rồi tăng ga bỏ chạy vượt qua H2 và T. Lúc này H2 đang chạy trước Sáng khi nghe S la lên H2 biết lực lượng chức năng đang truy đuổi, H2 tăng ga bỏ chạy và nhìn phía trước thấy T đang vứt bỏ 02 bao tải chứa pháo loại 49 viên và 02 bịch pháo bị nên H2 cũng mở dây thun vứt hai bao tải màu xanh bên trong chứa pháo xuống đường nhựa rồi tiếp tục bỏ chạy. Sáng chạy một đoạn thì thấy T và H2 chạy vượt qua Sáng, trên xe của T và H2 không có pháo, S nghĩ H2 và T đã vứt bỏ pháo lại để tẩu thoát nên S cũng vứt bỏ 02 bao tải màu trắng bên trong có chứa pháo và 01 bịch pháo bi màu trắng xuống đường nhựa rồi bỏ chạy. Lực lượng Công an tiến hành truy đuổi và bắt được Đào Văn S và thu giữ tang vật vụ án còn T và H2 chạy thoát. (bút lục 301, 303-305,309, 313, 318-320, 331, 323, 325, 326, 328, 329, 335, 337, 338).

Sau khi T1 điều khiển xe mô tô chở Đ về đến khu vực ấp H, xã L thì T1 thấy T cùng một số người điều khiển xe mô tô chở pháo chạy về hướng UBND xã L, lúc này T1 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Đ đi được một đoạn thì có một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) chạy lên nói có Công an đuổi nên T1 nói Đ nhảy xuống xe mô tô đứng chờ để T1 chạy đi công việc rồi T1 điều khiển xe mô tô đi một mình khoảng 01km, T1 thấy các hộp và bao pháo rớt ngoài khu vực đường nhựa. Lúc này, T1 thấy người đàn ông đeo khẩu trang, đội nón tím, (người đàn ông T1 gặp ngay cột mốc 66) đang đứng gần xe mô tô (xe mô tô dựng đầu xe hướng về biên giới còn đuôi xe hướng về xã L) để chuẩn bị lấy pháo. T1 tiếp tục chạy về hướng xã L và chạy đến ngã ba thì tiến rẽ trái chạy tầm 200m thì T1 nhìn thấy hai bao tải màu trắng chứa pháo và thấy

8

01 xe mô tô chạy lại chỗ hai bao pháo nên T1 chạy đến thì thấy T. Tại đây T kêu T1 “em phụ anh bưng cái bao này vô đây cái”, T1 đồng ý rồi bưng một bao pháo còn T bưng một bao pháo đi cất vào sau nhà hoang rồi đi ra, T1 lấy xe mô tô quay lại đón Đ còn T chạy xe theo sau T1 đến ngã ba thì rẽ trái. Khi T1 chạy xe mô tô đến gần chỗ Đ thì T gọi cho T1 và nói: “sao rồi em”, T1 trả lời: “Không có gì anh ơi”. Sau đó, T1 đến chỗ Đ rồi T1 chở Đ đi vào trong đường biên(bút lục 306, 307)

Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ; căn cứ vào biên bản khám nghiêm hiện trường ngày 06/01/2024 có sự chứng kiến của Lê Anh H2 số tang vật thu được tại khu vực ấp H, xã L (nay là xã L, tỉnh Đồng Nai) đã được niêm phong và gửi đi giám định đều là pháo nổ và pháo hoa nổ. Tổng khối lượng là 179,25kg.

Bị cáo Nguyễn Văn A đã bỏ trốn đang có lệnh truy nã. Tuy nhiên căn cứ vào biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, các bản tự khai và biên bản ghi lời khai, biên bản thực nghiệm điều tra thể hiện qua các (bút lục 230, 231, 292, 293, 203-205) Nguyễn Văn A đã thừa nhận ngày 04/01/2024 khi đi lưới cá có gặp Lê Anh H2, qua nói chuyện H2 có rủ Anh là đi chở pháo cho Nguyễn Trọng T, đồng thời khi đến khu vực cột mốc 66 thì Nguyễn Văn A có gặp T và được biết chở mỗi bao được T trả 500.000 đồng tiền công.

Đối chiếu với biên bản đầu thú của Lê Anh H2 cũng như các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn A về thời gian và địa điểm các bị cáo nhận pháo và số pháo khi bị truy đuổi các bị cáo vứt lại trên đường, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian các bị cáo liên lạc với nhau trước khi đi vận chuyển pháo. Số liệu được thể hiện trong báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc thoại và SMS của thuê bao 0961277886 (điện thoại T) 0379.159.xxx (số điện thoại T1) và 0355904415 (số điện thoại H2) do tập đoàn V1 cung cấp. Có đầy đủ cơ sở khách quan để xác định: Ngày 04/01/2024 Nguyễn Trọng T đã gọi điện thoại cho Phạm Huỳnh T1 để tìm người đi vận chuyển pháo cho T. T1 đã trực tiếp nói với S, sau đó gọi cho H2, H2 rủ thêm Anh đi đến địa điểm nhận pháo là cột mốc 66 ranh giới giữa Việt nam và C1. Tại đây còn có T cùng một người đi cùng T (chưa rõ nhân thân) nhận pháo từ trên xe 7 chỗ, sau đó tất cả tự lấy pháo được để trong các bao tải từ trên xe 7 chỗ sau đó để lên xe dùng dây ràng buộc lại. T là người chở pháo đi trước các bị cáo còn lại đi theo T, các bị cáo mới đi đến đoạn đường thuộc ấp H xã L thì bị phát hiện nên bỏ lại pháo chạy thoát, lực lượng Công an chỉ bắt được Sáng vào ngày 04/01/2024, sau đó H2, A và T1 đầu thú khai nhận toàn bộ quá trình phạm tội.

[2.1] Đối với bị cáo Phạm Huỳnh T1, mặc dù quá trình điều tra tự nguyện đầu thú và khai nhận toàn bộ diễn biến vụ án, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thay đổi lời khai cho rằng bị ép cung, mặc dù các biên bản làm việc bị cáo đều xác định là khai đúng được đọc lại và không bị ép buộc, đồng thời tại bản tự khai do chính tay bị cáo tự viết ra nội dung bị cáo thực hiện

9

Ngoài ra, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cũng có triệu tập vợ của T1 là chị Nguyễn Thị Trà M để hỏi về việc lý do T1 bị thu giữ điện thoại được chi M cho biết “Lý do T1 có kể cho tôi biết là vào ngày 04/01/2024 anh T1 có rủ người đi vận chuyển pháo cho anh T và bị lực lượng Công an phát hiện. Sau thời gian trên tôi có động viên anh T1 ra đầu thú với Cơ quan Công an nên vào ngày 18/01/2024 anh T1 đến cơ quan Công an đầu thú và khai toàn bộ nội dung sự việc đồng thời nộp điện thoại” (bút lục số 352).

[2.2] Đối với Nguyễn Trọng T, bị cáo xác nhận trong các bị cáo, T chỉ quen biết T1 và Sáng đã có lần đến nhà T còn H2 và Anh bị cáo không biết. Tuy nhiên, bị cáo S khai nhận bị cáo đã từng vận chuyển pháo cho T hai lần nhưng không nhớ chính xác thời gian và đã nhận được tiền công vận chuyển là 4.000.000 đồng (bút lục 319) Tại các biên bản nhận dạng qua hình ảnh và đối chất các bị cáo S, H2, Nguyễn Văn A, T1 đều nhận ra người có mặt tại cột mốc 66 và đã cùng với các bị cáo vận chuyển hàng cấm chính là Nguyễn Trọng T, người đi xe mô tô màu xanh phù hợp với phương tiện mà T sử dụng trong ngày 04/01/2024. Theo lời khai của T mượn của anh L chồng của chị Lý Thị Kiều T4 và T đã gửi tại nhà của anh T5 chồng của chị Nguyễn Thị N1 ấp 8B xã L. Theo lời khai của chị N1 T gửi xe vào lúc khoảng 16 đến 17 giờ ngày 04/01/2024. Với tất cả chứng cứ tài liệu dẫn chiếu trên có thể thấy rằng đối với bị cáo T bản thân bị cáo đã từng bị kết án về tội Giết người. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân xấu nên bị cáo là người có kinh nghiệm trong việc khai báo, đối phó với cơ quan pháp luật. Do đó, bị cáo T khai báo gian dối nhằm để né tránh trách nhiệm hình sự.

Bị cáo T1 các lời khai ban đầu đều thừa nhận hành vi của mình nhưng sau đó tại phiên toà sơ thẩm vì sợ bị trả thù và phải chịu trách nhiệm hình sự ở khung hình phạt cao nên bị cáo đã thay đổi lời khai nhằm né tránh trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Huỳnh T1, Đào Văn S về tội “ Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật nên kháng cáo kêu oan của các bị cáo Nguyễn Trọng T và Phạm Huỳnh T1 không có căn cứ nên không được HĐXX châp nhận.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo T1 cung cấp Giấy khám sức khoẻ ngày 09/01/2024 của Bệnh viện Đ1 làm căn cứ để chứng minh việc bị cáo bị đánh đập. Tuy nhiên, căn cứ vào văn bản trả lời số 1037/BVĐKSG-KHTH ngày 25/11/2025 của Bệnh viện Đ1 đã xác định giấy khám sức khoẻ số 0901 không do bệnh viện Đ1 cấp với các lý do Hồ sơ lưu trữ không có tên ông Phạm Huỳnh T1 đến khám sức khoẻ; tất cả chữ ký của bác sỹ kỹ thuật y và tên các bác sỹ sử dụng tại Giấy khám sức khoẻ số 0901 đều không phải chữ ký mẫu được bệnh viện đăng ký tại Sở y tế Thành phố H cho các bác sỹ, kỹ thuật y có tên liên quan. Con dấu sử dụng trong giấy khám sức khoẻ số 0901 không phải là con dấu hiện được cấp sử dụng tại Bệnh viện Đ1. Các nội dung ghi nhận trong Giấy khám sức khoẻ số 0901 không đúng theo các quy định hiện hành.

10

Việc tẩy xoá, cũng như nội dung ghi nhận trong Giấy khám sức khoẻ số 0901 không liên quan đến bệnh viện Đ1. Do đây không phải là Giấy khám sức khoẻ của bệnh viện cấp.

Nên cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét việc cung cấp sử dụng giấy tờ giả là Giấy khám sức khoẻ số 0901/GKSK/2024 ngày 09/01/2024 do bị cáo T1 giao nộp.

Ngoài ra, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo T1 yêu cầu Toà án triệu tập những người làm chứng. Tuy nhiên lời khai của những người làm chứng không phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác nên không được chấp nhận. Đối với bị cáo T kháng cáo kêu oan nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới. Do đó, kháng cáo của bị cáo T, T1 không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trọng T và Phạm Huỳnh T1.

[2.3] Đối với bị cáo Đào Văn S: Trong quá trình điều tra bị cáo S, thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra là rõ vụ án, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên toà phúc thẩm, bị cáo thay đổi lời khai, không thành khẩn - bị cáo là người được bị cáo T1 rủ đi vận chuyển pháo cho T từ đó bị cáo S mới biết được vị trí đến nhận pháo và chở pháo nhưng tại phiên toà phúc thẩm lo sợ bị trả thù và khi đối diện với mức hình phạt cao, bị cáo lại thay đổi lời khai cho rằng bị cáo tự thực hiện nên xin tự chịu trách nhiệm - vì vậy bị cáo S không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, bị cáo S không biết chữ, là dân tộc thiểu số, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ, hậu quả hành vi mà bị cáo gây ra, xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên để quyết định ở mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo S không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào mới. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo S không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai về phần hình phạt đối với bị cáo Đào Văn S.

[3] Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo T1 nêu ra một số vi phạm tố tụng. Tuy nhiên, như đã lập luận trên việc bị cáo T1 thay đổi lời khai tại phiên toà sơ thẩm so với lời khai ban đầu là không phù hợp. Quá trình điều tra có một số vi phạm xong không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần huỷ Bản án.

Đối với ý kiến của Luật sư về số lượng pháo, HĐXX thấy rằng xuất phát từ việc bị cáo T liên lạc nhờ bị cáo T1 vận chuyển pháo và kiếm thêm người để giúp T vận chuyển pháo nên chính bị cáo T1 là người đã liên hệ, rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia vận chuyển, cảnh giới theo yêu cầu của T nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung đối với khối lượng pháo mà cơ quan điều tra

11

đã thu giữ và truy tố. Do vậy, quan điểm của Luật sư là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét hành vi có dấu hiệu đồng phạm của Đào Văn Đ.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Huỳnh T1, Đào Văn S phải chịu án phí theo quy định.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Huỳnh T1;

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Văn S;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai đối với bị cáo Nguyễn Trọng T và Phạm Huỳnh T1.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai về phần hình phạt đối với bị cáo Đào Văn S.

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Huỳnh T1, Đào Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, Điều 17, 50, 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2024.
  3. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191, Điều 17, 50, 58, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Phạm Huỳnh T1 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 26/7/2024.

Xử phạt Đào Văn S 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 26/7/2024.

12

  1. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Huỳnh T1, Đào Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền xem xét hành vi của Đào Văn Đ và việc cung cấp sử dụng giấy tờ giả là Giấy khám sức khoẻ số 0901/GKSK/2024 ngày 09/01/2024 do bị cáo Phạm Huỳnh T1 giao nộp.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14- Đồng Nai không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - PV 06 Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND, VKSND KV14 - Đồng Nai;
  • - THADS tỉnh Đồng Nai (P. THADS KV14);
  • - CQĐT Công an KV14- Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Tổ HCTP, THS, HSVA (20b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 678/2025/HS-PT ngày 19/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 678/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vận chuyển hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger