|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI Bản án số: 678/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/11/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng
- Ông Nguyễn Văn Vĩ
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 275/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1988 (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã N, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Tổ F, xã Q, thành phố Hà Nội;
Bị đơn: Anh Ngô Xuân M, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 30/7/2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Ngô Xuân M được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 03/12/2009 tại trụ sở UBND xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã L, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn chị về sống cùng anh M tại thôn N, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội nay là xã N, thành phố Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh M chơi bời, cờ bạc, thường xuyên đi sớm về muộn, bỏ bê vợ con và không có trách nhiệm với gia đình. Anh chị đã tự hòa giải và được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh M.
- Về con chung: Chị và anh M có 03 con chung là Ngô Chí T, sinh ngày 06/10/2010, Ngô Hải Đ, sinh ngày 23/10/2014 và Ngô Minh A, sinh ngày 19/10/2018. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu A đã chuyển ra ngoài sống cùng chị, cháu T và cháu Đ vẫn ở lại sinh sống cùng anh M. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu T và cháu Đ cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Xuân M đã được tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh M vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, không gửi bản tự khai và bất cứ tài liệu chứng cứ gì. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương đến nơi cư trú của anh M nhưng anh vắng nhà nên Tòa án không ghi được lời khai của anh đối với các yêu cầu khởi kiện của chị H và không tiến hành hòa giải cho anh chị được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án, giao thông báo thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ và đúng quy định pháp luật; Vụ án được giải quyết đúng thời hạn; Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, phiên tòa diễn ra đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX quyết định:
- + Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh M.
- + Về con chung: Giao cháu Ngô Chí T, sinh ngày 06/10/2010 và Ngô Hải Đ, sinh ngày 23/10/2014 cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Ngô Minh An S ngày 19/10/2018 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc tự mỗi bên đảm nhiệm việc cấp dưỡng nuôi con;
Chị H, anh M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
- + Về tài sản chung, về bất động sản là nhà ở, quyền sử dụng đất, đất sản xuất nông nghiệp, tài sản riêng, về công sức, về nợ: anh chị không yêu cầu chia tài sản nên không xem xét giải quyết.
- + Về án phí: chị H phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7– Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP . nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về việc ly hôn và nuôi con. Bị đơn trong vụ án là anh Ngô Xuân M, sinh năm 1988 hiện cư trú tại thôn N, xã N, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.
Chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án chị H đã cung cấp đầy đủ lời khai, giao nộp các tài liệu chứng cứ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Ngô Xuân M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh M.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Ngô Xuân M được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 03/12/2009 tại trụ sở UBND xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã L, tỉnh Phú Thọ (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 03/12/2009 của UBND xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc) nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M. Anh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi được lời khai của anh và không tổ chức hòa giải cho anh chị được.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm, vun đắp hạnh phúc, làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Qua xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh chị cũng như trình bày của đương sự được biết: Vợ chồng anh chị đã không còn gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mặc dù anh chị đã tự hòa giải và được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng quan hệ vợ chồng không cải thiện được nên chị H đã chuyển ra ngoài, anh chị đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Bản thân anh M không chủ động, tích cực bảo vệ cuộc hôn nhân của mình, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự, không chấp hành các giấy triệu tập của tòa án và không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án không tổ chức hòa giải cho anh chị được. Đến nay chị H vẫn kiên quyết xin ly hôn anh M. Như vậy có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn anh M là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị H và anh M có 03 con chung là Ngô Chí T, sinh ngày 06/10/2010, Ngô Hải Đ, sinh ngày 23/10/2014 và Ngô Minh A, sinh ngày 19/10/2018. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A để anh M nuôi cháu T và cháu Đ. Xét nguyện vọng nuôi con của chị Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của người làm cha, làm mẹ nên nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của chị là hoàn toàn chính đáng. Mặt khác: Cháu A đang sống cùng mẹ và có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Cháu T và cháu Đ đang sống cùng bố và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng bố. Do đó việc giao cháu A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, để anh M trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu Đ là phù hợp với điều kiện thực tế của các đương sự và nguyện vọng của các con chung nên được Tòa án chấp nhận.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung chị H, anh M không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 3, 8, 9, 51, 58, 71, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, cho chị Nguyễn Thị Thu H, được ly hôn anh Ngô Xuân M.
2. Về con chung: Xác định chị Nguyễn Thị Thu H và anh Ngô Xuân M có 03 con chung là Ngô Chí T, sinh ngày 06/10/2010, Ngô Hải Đ, sinh ngày 23/10/2014 và Ngô Minh A, sinh ngày 19/10/2018.
Giao con chung Ngô Minh A cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Ngô Chí T và Ngô Hải Đ cho anh Ngô Xuân M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án thay thế.
Chị chị Nguyễn Thị Thu H và anh Ngô Xuân M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thu H và anh Ngô Xuân M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/25E số 0009957 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Chi thi hành án Dân sự thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Thu H và anh Ngô Xuân M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
- Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Khu vực 7- Hà Nội; - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội; - UBND xã Liên Hòa, tỉnh Phú Thọ (Giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 03/12/2009 của UBND xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc); - Lưu: Văn Phòng, HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN _ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
|
- Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Sóc Sơn, Hà Nội; - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn, Hà Nội; - UBND xã Nội Bài, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn số 87 ngày 18/10/2016 của UBND xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn cũ); - Lưu: Văn Phòng, HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN _ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
6
Bản án số 678/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 678/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
