TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
-
Bản án số: 678/2024/DS-PT
Ngày: 26/11/2024
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Bà Trần Thị Liên Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 317/2024/TLPT-DS ngày 10/10/2024, về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án số 67/2024/DSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 515/2024/QĐ-PT ngày 11/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 601/2024/QĐPT-HPT ngày 18/11/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Địa chỉ: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Bà Lã Thị H, chức vụ Phó Giám đốc Khối xử lý nợ. Đại diện theo uỷ quyền lại bà Nguyễn Thị T1 (giấy uỷ quyền số 14926/UQ-SeAbank ngày 26/09/2023).
( Có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1972
Địa chỉ: số A ngõ A Hồ T, tổ dân phố số A, Cầu D, N, Hà Nội;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Nhất T2. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà Trần Thị Ngọc L, đã ký các Hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi tắt là S) – Chi nhánh L1, Hà Nội cụ thể sau:
- Hợp đồng cho vay từng lần số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 với nội dung Ngân hàng cho bà L vay số tiền 3.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Tiêu dùng; Thời hạn vay từ ngày 10/01/2022 đến 10/01/2032; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 8,99%/năm và được giữ cố định trong 12 tháng đầu tiên của khoản vay. Hết thời hạn trên, lãi suất cho vay bằng (=) Lãi suất cơ sở của S đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ 3,69%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn; và bằng 10%/năm áp dụng với dư nợ lãi chậm trả.
- Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (Visa) ngày 24/12/2021, hạn mức được cấp là: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên bao gồm:
- Toàn bộ quyền sử dụng 54,8m² đất (bao gồm: 34m² đất sử dụng riêng, 20,8m² đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 537; 541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 110251, số vào sổ cấp GCN: CS-NTL: 12317 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 22/10/2018 cho bà Trần Thị Ngọc L. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 05/01/2022; Số công chứng 51, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội.
- Toàn bộ quyền sử dụng 53,1m² đất (bao gồm: 32,3m² đất sử dụng riêng, 20,8m² đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 535;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 666265, số vào sổ cấp GCN: CS 24972 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 11/06/2019 cho bà Trần Thị Ngọc L. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 05/01/2022, số công chứng 52, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng trên, bà Trần Thị Ngọc L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho S. Đối với Hợp đồng tín dụng REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022, thì từ ngày 25/03/2023, bà Trần Thị Ngọc L đã chậm trả lãi và gốc S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Trần Thị Ngọc L trả nợ nhưng bà Trần Thị Ngọc L vẫn không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng S, đồng ý ngày cuối cùng tính trả lãi gốc và chậm trả lãi là ngày 10/09/2023.
Tại thời điểm này bà Trần Thị Ngọc L mới thanh toán được cho S số tiền: 664.468.416 đồng (trong đó nợ gốc là: 353.709.935 đồng, nợ lãi là: 310.758.481 đồng). Như vậy bà Trần Thị Ngọc L còn nợ ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng ngày 5/01/2022 tính đến ngày 26/4/2024, là: Gốc 2.646.290.065 đồng; lãi trong hạn 391.976.062 đồng; lãi quá hạn 38.673.960 đồng; Phạt chậm trả lãi từ ngày 25/03/2023 đến ngày 26/04/2024 là 22.603.953 đồng; Tổng là 3.237.588.874 đồng.
Đối với thẻ Visa phát hành ngày 24/12/2021, hạn mức được cấp là: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) thì bà Trần Thị Ngọc L sử dụng và bắt đầu chậm thanh toán gốc số tiền 100.000.000đồng. Phải chịu lãi suất chậm thanh toán 34/% theo thoả thuận từ ngày 17/7/2023 (ngày chậm thanh toán) đến ngày xét xử 26/4/2024 là 285 ngày = 42.044.834đồng.
Tổng hai khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và thẻ bao gồm gốc và lãi là T3 là 3.237.588.874 đồng.
Nay Ngân hàng S yêu cầu bà Trần Thị Ngọc L phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi nêu trên cùng các khoản lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo Toà xét xử cho đến khi thi hành án xong.
Trong trường hợp bà Trần Thị Ngọc L không thanh toán thì S được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm trên để thu hồi nợ cho S. Trường hợp số tiền xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S, thì bà Trần Thị Ngọc L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Quá trình giải quyết vụ án và tại Toà, đại diện theo ủy quyền của Bị đơn trình bày: tôi xác nhận thời gian ký kết và nội dung của hợp đồng tín dụng, Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Visa như nguyên đơn trình bày là đúng.
Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, bà Trần Thị Ngọc L có vi phạm nghĩa vụ trả nợ một phần gốc và lãi cho S và S vì khó khăn trong kinh doanh, nên S có đôn đốc, yêu cầu trả nợ cho Ngân hàng theo cam kết vay tín dụng. Nay, bà Trần Thị Ngọc L thừa nhận khoản nợ như ngân hàng đã nêu trên là đúng, không có ý kiến gì khác.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, hai bên có ký các Hợp đồng thế chấp đối với các tài sản bảo đảm như sau:
Tài sản bảo đảm 01: Toàn bộ quyền sử dụng 54,8m² đất (bao gồm: 34m² đất sử dụng riêng, 20,8m² đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 537;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 110251, số vào sổ cấp GCN: CS-NTL: 12317 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 22/10/2018 cho bà Trần Thị Ngọc L. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 05/01/2022; Số công chứng 51, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội.
Tài sản bảo đảm 02: Toàn bộ quyền sử dụng 53,1m² đất (bao gồm: 32,3m² đất sử dụng riêng, 20,8m² đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 535;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 666265, số vào sổ cấp GCN: CS 24972 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 11/06/2019 cho bà Trần Thị Ngọc L. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 05/01/2022, số công chứng 52, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội.
Đối với 02 tài sản bảo đảm đều đã xây dựng nhà cấp 4 từ trước thời điểm thế chấp cho S. Hiện nay, bà L không ở trên tài sản thế chấp mà cho người thân ở nhờ. Do ở nhờ nên không có Hợp đồng thuê hay mượn mà chỉ vào ở khi nào bà L cần thì báo họ sẽ di chuyển trả lại mặt bằng. Những người ở nhờ họ chỉ đến ở, không sửa chữa cơi nới gì. Kể từ khi thế chấp bà L không cải tạo, sửa chữa gì đối với nhà đất thế chấp.
Nay S khởi kiện thì đề nghị S tạo điều kiện thời gian để thu xếp trả nợ gốc trong hai năm, thời gian bắt đầu trả là từ năm 2026, thực hiện trả nợ gốc cho S, mỗi năm là 500.000.000 đồng, nếu bà L có biến động về nguồn thu thì sẽ thanh toán cho S nhiều hơn số tiền đã nêu trong mỗi năm. Trường hợp bà L, không thanh toán được thì đồng ý phát mại tài sản thế chấp để thanh toán nợ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với bà Trần Thị Ngọc L, về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp tài sản.
- Buộc bà Trần Thị Ngọc L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ khoản nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 và Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (Visa) ngày 24/12/2021, tổng nợ tính đến ngày 26/4/2024 như sau: Hợp đồng REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 gồm: Nợ gốc 2.646.290.065 đồng; Tiền lãi trong hạn 391.976.062 đồng. Lãi quá hạn 38.673.960 đồng. Hợp đồng thẻ Visa ngày 24/12/2021 gồm: Nợ gốc 100.000.000 đồng; Tiền lãi quá hạn 42.044.834đồng. Tổng là: 3.214.984.921đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử vụ án 26/04/2024, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong theo Hợp đồng tín dụng vay và Hợp đồng Visa ngày 24/12/2021 nêu trên cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
- Bác yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ buộc bà Trần Thị Ngọc L phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi 22.603.953 đồng.
- Kể từ ngày Q định/Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Trần Thị Ngọc L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ cho S. Tài sản bảo đảm 01: Toàn bộ quyền sử dụng 54,8m² đất (bao gồm: 34m² đất sử dụng riêng, 20,8m² đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 537;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 110251, số vào sổ cấp GCN: CS-NTL: 12317 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 22/10/2018 cho bà Trần Thị Ngọc L; Tài sản bảo đảm 02: Toàn bộ quyền sử dụng 53,1m² đất (bao gồm: 32,3m² đất sử dụng riêng, 20,8m² đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 535;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 666265, số vào sổ cấp GCN: CS 24972 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 11/06/2019 cho bà Trần Thị Ngọc L.
- Trong trường hợp số tiền xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S, thì bà Trần Thị Ngọc L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm ngày 26/4/2024 Ngân hàng S kháng cáo một phần bản án đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đối với số tiền nợ lãi chậm trả.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm ngày 10/5/2024 bà Trần Thị Ngọc L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 67/2024/DSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hà Nội, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và của bà Trần Thị Ngọc L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm; Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và của bà Trần Thị Ngọc L đều làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2].Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn là bà Trần Ngọc L, Hội đồng xét xử xét thấy các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 05/01/2022 Ngân hàng S và bà Trần Thị Ngọc L ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay từng lần số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL và ngày 24/12/2021 Ngân hàng S và bà Trần Thị Ngọc L ký kết Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Visa. Việc ký kết các Hợp đồng được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.
Sau khi ký kết Hợp đồng Ngân hàng S đã giải ngân cho bà Trần Thị Ngọc L số tiền 3.000.000.000 đồng theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL và ngày 24/12/2021.
Ngày 24/12/2021, Ngân hàng S đã cấp hạn mức thẻ Viza cho bà L với hạn mức là: 100.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng bà L đã thanh toán được là 357.709.481 đồng tiền gốc.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa các đương sự đều xác nhận tính đến ngày 26/4/2024 bà L còn nợ Ngân hàng S số tiền nợ gốc của Hợp đồng cho vay từng lần số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 và Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (Visa) ngày 24/12/2021 cụ thể: Hợp đồng REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 gồm: Nợ gốc 2.642.290.065 đồng. Hợp đồng thẻ Visa ngày 24/12/2021 gồm: Nợ gốc 100.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S buộc bà Trần Thị Ngọc L phải thanh toán trả cho Ngân hàng S số tiền nợ gốc của hai hợp đồng là: 2.742.290.065 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Về lãi suất: Hội đồng xét thấy đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 tại mục 4.1 Điều 4 của Hợp đồng các bên thỏa thuận lãi suất cho vay trong hạn là 8,99%/năm và được giữ cố định trong 12 tháng đầu tiên của khoản vay. Hết thời hạn trên lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở của ngân hàng S đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ 3,69%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn; và băng 10%/năm áp dụng với dư nợ lãi chậm trả. Qua kiểm tra bảng tính lãi suất của Ngân hàng thấy việc tính lãi của Ngân hàng phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S buộc bà Trần Thị Ngọc L phải thanh toán trả cho Ngân hàng S số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 26/4/2024 là 430.650.022 đồng. Trong đó lãi trong hạn là 391.976.062 đồng; Nợ lãi quá hạn là 38.673.960 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Hợp đồng thẻ Visa ngày 24/12/2021 xét thấy theo thỏa thuận của các bên thì lãi suất chậm thanh toán 34/%. Xét thấy từ ngày 17/7/2023 bà L đã chậm thanh toán tiền sử dụng thẻ. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc bà L phải thanh toán tiền lãi quá hạn cho Ngân hàng S kể từ ngày 17/7/2023 đến ngày xét xử 26/4/2024 là 285 ngày = 42.044.834 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Đối với khoản tiền phạt chậm trả lãi: Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng S, Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại tại mục 4.5, khoản 4 Điều 2 của Hợp đồng cho vay từng lần số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 quy định: “ Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả 10%/năm tính trên dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.
Theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 13 thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 31/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả....”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “ Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Từ những phân tích trên xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng S buộc bà Trần Thị Ngọc L phải thanh toán trả cho Ngân hàng S số tiền nợ lãi trậm trả tạm tính đến ngày 26/4/2024 là : 22.603.953 đồng.
Từ những căn cứ trên buộc bà Trần Thị Ngọc L phải thanh toán trả cho Ngân hàng S tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 26/4/2024 là: 3.237.588.874 đồng. Trong đó nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 là: 3.095.544.040 đồng ( trong đó nợ gốc là: 2.642.290.065 đồng; Tiền lãi trong hạn 391.976.062 đồng. Lãi quá hạn 38.673.960 đồng; lãi chậm trả là : 22.603.953 đồng); Nợ gốc và nợ lãi của Thẻ Visa ngày 24/12/2021 là : 142.044.834 đồng ( trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng; Nợ lãi quá hạn là 42.044.834 đồng).
* Tài sản đảm bảo cho khoản vay gồm:
- + Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 537;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 110251, số vào sổ cấp GCN: CS-NTL: 12317 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 22/10/2018 cho bà Trần Thị Ngọc L.
- + Toàn bộ quyền sử dụng 53,1m² đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 535;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 666265, số vào sổ cấp GCN: CS 24972 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 11/06/2019 cho bà Trần Thị Ngọc L.
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2136100647/HĐTC/HN6-TTNL/TS02 được lập tại Văn phòng C, số công chứng 52, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Các tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 06/01/2022 tại Văn phòng Đ1.
Xét thấy Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, nên phát sinh hiệu lực đối với các bên. Do đó trường hợp bà Trần Thị Ngọc L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ gốc, lãi trên cho Ngân hàng S thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm trên để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền xử lý các tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng S, thì bà N phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng S.
Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp, thì các hộ gia đình đang cư trú tại diện tích nhà đất trên cũng như các gia đình, những người khác đang ăn ở thực tế hay thuê, ở nhờ tại diện tích nhà đất đó phải chuyển dọn nhà cửa, tài sản đi chỗ khác để thi hành án.
Từ những phân tích trên xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng S; không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Ngọc L, nên sửa án sơ thẩm như đã phân tích ở trên.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp một phần với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận một phần.
* Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 292, 295, 298, 299, 323, 463, 466, 688 BLDS năm 2015
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với bà Trần Thị Ngọc L.
- Buộc Bà Trần Thị Ngọc L phải có trách nhiệm thanh toán trả cho Ngân hàng S tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi của hợp đồng tín dụng số REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 và thẻ Visa 24/12/2021 tạm tính đến ngày 26/4/2024 là: 3.237.588.874 đồng. Trong đó nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng REF2136100647/HDTD/HN6-TTNL ngày 05/01/2022 là: 3.095.544.040 đồng (trong đó nợ gốc là: 2.642.290.065 đồng; Nợ lãi trong hạn 391.976.062 đồng; Nợ lãi quá hạn 38.673.960 đồng; Nợ lãi chậm trả là : 22.603.953 đồng) và nợ gốc, nợ lãi của Thẻ Visa ngày 24/12/2021 là : 142.044.834 đồng (trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng; Nợ lãi quá hạn là 42.044.834 đồng).
Kể từ ngày 27/4/2024 bà Trần Thị Ngọc L còn phải thanh toán trả cho Ngân hàng S số tiền nợ lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, Hợp đồng thẻ Visa cho đến khi tất toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc.
- Trường hợp bà Trần Thị Ngọc L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ trên cho Ngân hàng S, thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Toàn bộ quyền sử dụng 54,8m2 đất ( bao gồm: 34m2 đất sử dụng riêng; 20,08m2 đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 537;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 110251, số vào sổ cấp GCN: CS-NTL: 12317 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 22/10/2018 cho bà Trần Thị Ngọc L; Toàn bộ quyền sử dụng 53,1m² đất ( bao gồm 32,3m2 đất sử dụng riêng, 20,8m2 đất sử dụng chung), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 535;541, tờ bản đồ số: 15, địa chỉ: Phường X, quận N, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 666265, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS24972 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 11/6/2019 cho bà Trần Thị Ngọc L. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2136100647/HĐTC/HN6-TTNL/TS02 được lập tại Văn phòng C, số công chứng 52, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Trường hợp số tiền xử lý các tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng thương S, thì bà L phài có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng S.
Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp, thì các hộ gia đình đang cư trú tại diện tích nhà đất trên cũng như các gia đình, những người khác đang ăn ở thực tế hay thuê, ở nhờ tại diện tích nhà đất đó phải chuyển dọn nhà cửa, tài sản đi chỗ khác để thi hành án.
- Về án phí:
- + Án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Ngọc L phải chịu: 96.287.098 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng S 45.456.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí do Ngân hàng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0009057 ngày 30/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận N, thành phố Hà Nội.
+ Án phí phúc thẩm: Hoàn trả bà Trần Thị Ngọc L 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm bà đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009752 ngày 06/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận N, thành phố Hà Nội.
Hoàn trả cho Ngân hàng S 300.000 đồng án phí phúc thẩm Ngân hàng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 009735 ngày 30/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận N, thành phố Hà Nội
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGÔ TUYẾT BĂNG. |
Các thẩm phán Trần Thị Liên Anh Nguyễn Thị Hồng H1 | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Tuyết B |
Bản án số 678/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 678/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng Đ và bị đơn Trần Thị Ngọc L
