Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 677/2024/HS-PT

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Đức Hiếu
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Văn Thành
Ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký phiên tòa:Ông Lý Minh Chính – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 14/8/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 569/2024/TLPT-HS ngày 03/7/2024 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 581/2024/QĐXXPT-HS ngày 30/07/2024 đối với:

- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Văn T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: QĐ, xã VQ, huyện TT, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T sinh năm 1950; Con bà Đỗ Thị T sinh năm 1956; Vợ là Lê Thị L (Đã ly hôn) và có 02 con: Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 22/12/2023; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ, ngày 15/12/2023, Phạm Văn T đang ở nhà tại cụm X làng QĐ, xã VQ, huyện TT, thành phố Hà Nội thì có một người phụ nữ không quen biết sử dụng tài khoản Zalo tên "Wings" nhắn tin cho T rủ T đi sử dụng ma túy, T đồng ý. Sau đó, T lên mạng xã hội Telegram nhắn trên nhóm chat tên “Nhóm Kẹo, Ke” hỏi mua 03 viên ma túy “Kẹo” và nửa chỉ ma túy “Ke” thì có người trả lời đồng ý bán cho T với giá 300.000 đồng/1 viên ma túy “Kẹo”, nửa chỉ ma túy “Ke” với giá 1.500.000 đồng, tổng số tiền mua ma túy là 2.400.000 đồng. T đồng ý và thỏa thuận với người bán ship ma túy đến khu vực cổng chùa Linh Thông tại làng Quỳnh Đô, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội cho T. Khoảng 01 giờ, ngày 15/12/2023, T đi bộ ra khu vực cổng chùa Linh Thông thì thấy có một người đàn ông mặc áo tối màu, đeo khẩu trang, đi xe máy kiểu dáng Wave. Người đàn ông trên đưa cho T 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu xanh, 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “Kẹo” và ma túy “Ke”. T đưa cho người đàn ông trên số tiền 2.400.000 đồng, người đàn ông trên nhận tiền của T và điều khiển xe máy bỏ đi. Sau đó, T cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi về nhà và vào mạng xã hội Zalo nói chuyện với người phụ nữ sử dụng tài khoản Zalo tên “Wings” là T đã có ma túy “Kẹo” và ma túy “Ke”. Nguời phụ nữ trên bảo T đến địa chỉ ngõ 256, 258 Lạc Long Quân - Bưởi – quận Tây Hồ - thành phố Hà Nội để sử dụng ma túy. Sau đó, T điều kiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Corolla Altis màu bạc BKS: 29A-011.33 đi đến khu vực ngõ 256, 258 Lạc Long Quân, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Đến nơi, T đỗ xe tại khu vực đầu ngõ 256, 258 phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội rồi đi bộ vào trong ngõ 256, 258 phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường Bưởi kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T tự tay lấy trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa 03 viên nén màu xanh và 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma tuý “Kẹo” và ma tuý “Ke” T mang đi sử dụng cùng bạn. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ niêm phong vật chứng và đưa T về trụ sở cơ quan Công an giải quyết.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilông màu trắng bên trong có chứa 03 viên nén màu xanh; 01 túi nilông màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động IPHONE, màu vàng, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động Nokia, màu đen, đã qua sử dụng; Số tiền 500.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 127 ngày 03/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“....03 viên nén màu xanh bên trong 01 túi nilông, có tổng khối lượng là 1,185 gam ma tuý loại MDMA.

Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông, khối lượng 0,894 gam là ma tuý loại Ketamine”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành án tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 22/12/2023. Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/5/2024 bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo có đơn kháng cáo là hợp lệ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Cụ thể: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Bị cáo công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo có đơn kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Ngày 15/12/2023, tại khu vực ngõ 256, 258 Lạc Long Quân, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, bị cáo Phạm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 1,185 gam ma tuý loại MDMA và 0,894 gam là ma tuý loại Ketamine mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ quả tang.

Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 23/04/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm hình phạt:

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố là T binh loại A, T tật: 4/4; Được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng.

Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định và áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền sự. Bị cáo được đối tượng sử dụng tài khoản Zalo tên “Wings” rủ đi sử dụng ma túy. Xét về hoàn cảnh gia đình, bị cáo là lao động chính, đang chăm sóc bố, mẹ già yếu và 02 con chưa thành niên. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội theo hướng giảm hình phạt, cụ thể:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 22/12/2023.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - CQCSĐT quận Tây Hồ;
  • - VKSND quận Tây Hồ;
  • - TAND quận Tây Hồ;
  • - CQTHADS quận Tây Hồ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Đức Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 677/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 677/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội theo hướng giảm hình phạt, cụ thể: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 22/12/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger