|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 677/2024/HNGĐ-ST |
Ngày 26 tháng 09 năm 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Bích Liên
2. Bà Nguyễn Thị Lan Ka
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Phương - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 453/TLST- HNGĐ ngày 02/07/2024 về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 210/2024/QĐ-HPT ngày 30 tháng 08 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: Phòng H chung cư T, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Nhà số F - B5 (số mới 411 B) Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
(Chị H có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Nguyễn Kim Ngân D, sinh năm 1980; Hộ khẩu thường trú: Phòng 816-19T3 chung cư T, quận H, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Nhà số F (số mới 411 B) Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
(Anh D vắng mặt tại phiên tòa)
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 06 năm 2024, tại bản tự khai, tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Kim N Dũng ngày 26/11/2008 trên cơ sở tự nguyện và tìm hiểu kết hôn. Được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn anh chị chung sống ở nhà thuê tại G, đến năm 2013 anh chị về thuê nhà tại khu tập thể T, quận B, thành phố Hà Nội và sống từ đó cho đến nay. Quá trình anh chị chung sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc cho đến năm 2012 cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, anh D thường đánh chị, thường đi qua đêm không về mà không nói với chị ngủ ở đâu và lý do tại sao không về, không có thái độ tôn trọng chị, không có trách nhiệm về kinh tế trong gia đình, đi làm không đưa tiền cho chị để nuôi con. Bản thân chị làm ở quán “spa” gội đầu, làm “nail” một mình phải gồng gánh kinh tế trong gia đình, khi vợ chồng mâu thuẫn anh chị cũng đã nhiều lần ngồi nói chuyện với nhau để tìm cách tháo gỡ song tình cảm không cải thiện được. Mâu thuẫn đỉnh điểm là năm 2023 anh D thường xuyên dùng vũ lực để trấn áp tinh thần chị, thường đánh chị trước mặt các con làm cho các con luôn ở trong tình trạng sợ bố. Lần gây đây nhất là tháng 5 anh D đánh chị về việc chị góp ý thái độ anh D trong đám tang của bố chị và anh D đánh chị gây thương tích như hình ảnh chị gửi cho Tòa án. Do không hiểu biết pháp luật nên chị chưa làm đơn tố cáo anh D ra cơ quan Công an. Khi chị nộp đơn ly hôn và khi Tòa gửi giấy báo anh D nói với chị nếu anh D không đồng ý ký thì không có ai giải quyết cho chị được ly hôn, anh D còn đe dọa nếu chị vẫn cương quyết ly hôn anh D sẽ phá “quán” nơi làm việc của chị và có nói với các chị gái sẽ đầu độc bằng thuốc cả nhà. Do lo sợ nên chị đã phải đưa các con đi trốn không dám về nhà. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chị không còn tình cảm với anh D nên đề nghị Tòa án xét xử cho chị ly hôn anh D để đảm bảo cuộc sống ổn định của mẹ con chị.
Quá trình Tòa án báo hai vợ chồng lên hòa giải anh D cũng không có động thái muốn hòa giải đoàn tụ, chỉ ép chị lên rút đơn nhưng không nói chuyện hay có phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mỗi khi lên Tòa hòa giải chị H cũng có hỏi anh có đến Tòa án hòa giải không nhưng anh trả lời không đến. Do vậy, chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử.
Về con chung: Anh chị có 02 người con chung là cháu: Nguyễn Ngọc Minh Đ, sinh ngày 13/10/ 2010 và Nguyễn Thanh S, sinh ngày 28/8/2015. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi hai cháu vì bình thường việc chăm sóc nuôi dưỡng các con một mình chị đảm nhiệm, nguyện vọng của các con đều xin ở với mẹ. Hiện tại chị làm quán “spa” gội đầu làm “nail”, thu nhập mỗi tháng của chị khoảng 15 triệu đồng.
Về tài sản chung, vay nợ: Anh chị không có tài sản chung và vay nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn - anh Nguyễn Kim Ngân D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng trong quá trình giải quyết vụ anh D không đến Tòa để tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ.* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập được các thông tin về bị đơn như sau:
Qua xác mình, Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hà Nội cung cấp cho Tòa án nhân dân quận Ba Đình: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Kim Ngân D hiện đang ở tại căn hộ D B Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống tại địa phương, tổ dân phố được phản ánh việc anh chị có mâu thuẫn, có việc anh D xô xát với chị H nhưng cụ thể như thế nào thì chính quyền không nắm dược vì chị H không làm đơn hòa giải tại cơ sở. Đề nghị Tòa án căn cứ tình trạng hôn nhân của anh chị và các quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn – chị Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Kim Ngân D vì tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu đến nay không thể hoà giải tiếp tục sống chung được. Anh chị có 02 người con chung là: Nguyễn Ngọc Minh Đ, sinh ngày 13/10/ 2010 và Nguyễn Thanh S, sinh ngày 28/8/2015, hiện nay các cháu đang ở với chị. Chị có nguyện vọng xin nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi các con chung vì thu nhập hiện nay của chị đủ để nuôi cả hai cháu. Về tài sản chung nhà đất và vay nợ: chị H trình bày anh chị không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, tiến hành hòa giải, thu thập chứng cứ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Đối với các đương sự: từ khi thụ lý vụ án đến khi phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đã thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.Ý kiến của đại diện viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Kim Ngân D. Xử cho chị H được ly hôn với anh D. Về con chung: Giao cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Ngọc Minh Đ, sinh ngày 13/10/ 2010 và Nguyễn Thanh S, sinh ngày 28/8/2015. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi các con chung nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về tài sản chung, nhà đất ở chung và vay nợ: chị H trình bày vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Nguyễn Thị H khởi kiện “xin ly hôn” đối với anh Nguyễn Kim Ngân D, đây là tranh chấp về “hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn - anh Nguyễn Kim Ngân D, sinh năm 1980 hiện đang ở tại địa chỉ nhà số F (số M) Tập thể T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” là đúng thẩm quyền.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn – anh Nguyễn Kim Ngân D không có mặt dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh D theo quy định của pháp luật nhưng anh D vẫn không đến tham gia tố tụng và không tham gia xét xử tại phiên tòa. Đây là lần thứ 2 anh D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D.Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn không đến Tòa án, không trình bày quan điểm, không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3]. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:
Xét, quan hệ hôn nhân, giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Kim Ngân D tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 11 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (Giấy chứng nhận kết hôn số 79 quyển số 11), đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Kim Ngân D vì cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn, không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách sống không còn phù hợp, không chia sẻ được với nhau, anh D thường xuyên đánh chị dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống. Về nguyên nhân mâu thuẫn, căn cứ các chứng cứ gồm quá trình xác minh của Tòa án tại nơi cư trú, ý kiến của người thân trong gia đình, lời trình bày của các đương sự cho thấy: Chị H và anh D mâu thuẫn do không có sự chia sẻ trong gia đình, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án, anh D không đến Tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh D biết rõ chị H xin ly hôn nhưng anh D không có bất kỳ một ý kiến hay quan điểm gì đối với yêu cầu của chị H, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Tại phiên tòa hôm nay, anh D vắng mặt không có lý do, chứng tỏ anh D không mong muốn vợ chồng hòa giải để đoàn tụ, không đưa ra được biện pháp gì để cải thiện tình cảm với chị H để hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa anh chị. Anh D không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, không có ý kiến đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ. Xét thấy, quan hệ vợ chồng cần sự yêu thương, chia sẻ, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ và chồng như quy định theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có “nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc...”. Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống chung của vợ chồng chị H, anh D không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài vì vậy căn cứ Điều 19; Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Kim Ngân D.
[4] Về con chung:
Anh chị có 02 người con chung là cháu: Nguyễn Ngọc Minh Đ, sinh ngày 13/10/ 2010 và Nguyễn Thanh S, sinh ngày 28/8/2015.
Khi ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi hai con chung vì hiện các con đều đang ở với chị, việc chăm sóc nuôi dưỡng các con đều do một mình chị đảm nhiệm, nguyện vọng của các con đều xin ở với chị. Hiện tại chị làm quán spa gội đầu làm “nail”, thu nhập mỗi tháng của chị khoảng 15 triệu đồng đủ điệu kiện nuôi các con.
Anh D không đến Tòa và cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.Hội đồng xét xử nhận thấy, chị H có đủ điều kiện kinh tế và điều kiện về thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Nguyện vọng của chị H là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu Đ và cháu S; không làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh hoạt và học tập của các cháu nên được chấp nhận. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Ngọc Minh Đ và Nguyễn Thanh S cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ tháng 10/2024 cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi các con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.Anh Nguyễn Kim Ngân D có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung và nhà đất ở chung:
Chị H trình bày vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vay nợ chung:
Chị H trình bày vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Kim Ngân D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.Quan điểm của đại diện viện Kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015;
- Điều 19, 51,56,58,59,81,82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 5, 6 Nghị quyết 04/2017/NQ – HĐTP ngày 5/5/2017 hướng dẫn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Kim Ngân D.
Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Kim Ngân D.
II. Về con chung:
Anh chị có 02 người con chung là:
- Cháu Nguyễn Ngọc Minh Đ, sinh ngày 13/03/2010
- Cháu Nguyễn Thanh S, sinh ngày 28/08/2015.
Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Minh Đ và Nguyễn Thanh S cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ tháng 10/2024 cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi các con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Nguyễn Kim Ngân D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc các con chung không ai được cản trở.
III. Về tài sản chung và nhà đất ở chung:
Chị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nhà đất ở chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
IV. Về vay nợ chung:
Chị H trình bày vợ chồng không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
V. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0030284 ngày 02/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
VI. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Kim Ngân D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoài Phương |
Bản án số 677/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 677/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình H - D
