|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 677/2024/DS-PT Ngày 26-11 -2024 “V/v:Tranh chấp HĐTD” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Đỗ Minh Hoàng. |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Ông Chu Tuấn Anh |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn - Thẩm tra viên TAND Thành phố Hà Nội.
Đại diện VKSND Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Q - Kiểm sát viên.
Ngày 26/11/2024, tại trụ sở TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 325/2023/TLPT-DS ngày 06/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST, ngày 05/05/2023 của TAND quận Hoàn Kiếm bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 496/2023/QĐXX-PT ngày 01/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa và các Thông báo mở lại phiên tòa tiếp theo của TAND Thành phố Hà Nội đối với các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (P1). Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Đình L – Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền là ông Mai Xuân T – Giám đốc khối quản lý và tái cấu trúc tài sản. Ông T ủy quyền cho: Các ông Nguyễn Quốc H, Trần Hoàng Q1, Nguyễn Cảnh T1 và bà Lê Thị D. Theo Giấy ủy quyền số 26263/UQ-PVB ngày 22/11/2024. Có mặt bà D, ông Q1.
- Bị đơn:
- Anh Trịnh Văn C, sinh năm 1989;
- Chị Bùi Thị Huyền T2, sinh năm 1995.
Cùng Đăng ký Hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Cùng vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Văn Trọng C1, chết ngày 10/12/2021 đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị T3, sinh năm 1948;
- Anh Văn Trọng S, sinh năm 1973;
- Anh Văn Trọng L1, sinh năm 1979.
Cùng địa chỉ: Số A, tổ dân phố A, ngõ B, Q, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội.
- Chị Văn Thị Thu T4, sinh năm 1972. Cư trú tại: Thôn T, xã L, huyện H, Thành phố Hà Nội.
- Chị Nguyễn Thu C2, sinh năm 1973;
- Cháu Văn Việt H1, sinh năm 1999;
- Cháu Văn Thị Thư H2, sinh năm 2007 (do anh S và chị C2 là đại diện theo pháp luật).
- Chị Nguyễn Lê Thu P, sinh năm 1986;
- Cháu Văn Bảo N, sinh năm 2013, cháu Văn Bảo A, sinh năm 2015 (do anh L1 – chị P là đại diện theo pháp luật ).
Đại diện theo ủy quyền của: Bà Đinh Thị T3, anh Văn Trọng S, chị Nguyễn Thu C2, anh Văn Trọng L1 là chị Nguyễn Lê Thu P.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà T3 là các Luật sư: Nguyễn Đào T5, Nguyễn Tiến S1- Văn phòng L3, Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ:A Đường V, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội.
Có mặt: Bà T3, anh S1, chị T4, chị P và các Luật sư.
- Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1989. Trú tại: Tập thể Học viện C4, tổ dân phố B, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Địa chỉ: A H, phường T, quận B, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thành N1 - Giám đốc Sở. Vắng mặt.
- Văn phòng C5. Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Minh H3. Địa chỉ: Số A H, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Văn Trọng C1, chết ngày 10/12/2021 đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người kháng cáo: Bà Định Thị T6 và anh Văn Trọng S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án, tại cấp sơ thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 05/5/2016, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh H4 - Phòng G (Sau đây viết tắt là Ngân hàng Đ) đã ký Hợp đồng cho vay số 024/2016/HĐTD/PVB-NĐ (Sau đây viết tắt là HĐCV số 024) với anh C và chị Huyền T2 với nội dung: Ngân hàng Đại chúng cho vợ chồng anh C- chị T2 vay số tiền 1.600.000.000 đồng (Vợ chồng anh C đã nhận đủ số tiền vay và ký vào khế ước nhận nợ). Mục đích: Vay hoàn vốn mua nhà ở. Thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất trong hạn: Lãi suất áp dụng trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân: 7,99%/năm. Lãi suất cho vay các kỳ điều chỉnh tiếp theo được xác định theo công thức: Lãi suất tiền gửi tại Ngân hàng Đại chúng kỳ hạn 12 tháng loại lĩnh lãi cuối kỳ dành cho KHCN, loại tiền VNĐ được Ngân hàng Đại chúng công bố từng thời kỳ + biên độ tối thiểu 3,8%/năm. Kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với số dư nợ gốc đến hạn nhưng chưa trả được. Bằng 100% lãi suất trong hạn áp dụng tại ngày đến hạn đối với số dư nợ gốc chưa đến hạn nhưng phải chuyển thành nợ quá hạn. Trả nợ gốc, lãi: Ngày trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 25/5/2016, từ kỳ thứ 01 đến kỳ thứ 239 mỗi kỳ trả 6.660.000 đồng; kỳ thứ 240 trả 8.260.000 đồng + Lãi vay được trả định kỳ vào ngày 25 hàng tháng, lãi vay của kỳ thanh toán cuối cùng sẽ được trả vào ngày trả nợ gốc cuối cùng.
Tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho HĐCV số 024 là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 00, địa chỉ: Số A, tổ A ngõ B Q, phường Q, quận H, Hà Nội (Sau đây viết tắt là thửa đất số 76) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 781973(Sau đây viết tắt là: GCNQSDĐ số CB 781973); số vào sổ cấp GCN: CS-HĐO 02951 do Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 15/01/2016 cho anh Nguyễn Quốc V; ngày 22/01/2016 Văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận H xác nhận chuyển nhượng cho anh Trịnh Văn C và chị Bùi Thị Huyền T2 theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 02695.2016/HĐTC; quyển số: 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/5/2016 (Sau đây viết tắt là: HĐTC số 02695) tại văn phòng C6. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 05/5/2016 tại văn phòng Đ1 - Chi nhánh quận H.
Quá trình thực hiện HĐCV số 024 anh C, chị T2 trả được một phần nợ gốc/lãi như sau: Gốc mới trả được là 13.320.000 đồng; Lãi mới trả được là 26.181.399 đồng (Tổng cả gốc và lãi mới trả được 39.501.399 đồng). Lần trả gốc cuối cùng là ngày 29/6/2016; ngày trả lãi cuối cùng là ngày 25/02/2017. Như vậy vợ chồng anh C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên toàn bộ khoản vay chuyển thành nợ quá hạn với mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong HĐCV số 024. Ngân hàng Đ đã nhiều lần đôn đốc, gửi thông báo và làm việc nhưng đến nay anh C, chị T2 không thực hiện. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc anh C, chị T2 phải trả cho Ngân hàng Đại chúng toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi và các loại phí phát sinh theo HĐCV số 024, tạm tính đến ngày 27/9/2022: Nợ gốc là 1.586.680.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 939.191.048 đồng; Nợ lãi quá hạn là 739.965.370 đồng. Tổng cộng là 3.265.836.418 đồng.
- Buộc anh C, chị T2 phải trả các khoản nợ lãi, phí phát sinh với mức lãi suất thỏa thuận theo HĐCV số 024 kể từ ngày 28/9/2022 cho đến khi tất toán các khoản vay.
- Trong trường hợp vợ chồng anh C không thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng Đại chúng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 00, GCNQSDĐ số CB 781973 tại địa chỉ: Số A, tổ A ngõ B Q, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội theo HĐTC số 02695.
- Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của anh C, chị T2 tại Ngân hàng Đại chúng, thì Ngân hàng Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản khác và nguồn thu nhập hợp pháp của anh C, chị T2 để thu hồi nghĩa vụ còn lại của anh C, chị T2.
- Bị đơn, anh Trịnh Văn C trình bày:
Việc anh và chị T2 ký và thực hiện HĐCV số 024 với Ngân hàng Đại chúng đúng như nguyên đơn trình bày. Anh đề nghị trả tiền gốc cho Ngân hàng nếu Ngân hàng đồng ý miễn toàn bộ nợ lãi cho anh.
Sau khi nhận chuyển nhượng tài sản từ anh V, vợ chồng anh chị không ở tại nhà đất này mà vẫn cho chị T4 ở nhờ. Thừa nhận đã ký HĐTC số 02695 đúng như nguyên đơn trình bày. Nếu ngân hàng không nhất trí thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông C1 và các đương sự gồm: Bà T6, anh S, chị C2; anh L1, chị P, chị P thông nhất trình bày:
Không nhất trí với đề nghị của Ngân hàng Đ vì: Thửa đất số 76 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 588948 (Sau đây viết tắt là: GCNQSDĐ số BR 588948) do UBND quận H cấp ngày 30/6/2014 cho ông Văn Trọng C1 là chủ sở hữu, chủ sử dụng chưa chuyển nhượng cho ai khác.
Mặc dù có Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1409.2015 (Sau đây viết tắt là HĐCNQSDĐ số 1409.2015) do Văn phòng C7 công chứng ngày 14/10/2015 về việc ông C1 và vợ là bà T6 chuyển nhượng thửa đất số 76 cho anh V. Tuy nhiên thời điểm làm thủ tục ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015 thì ông C1 bị tai biến, phải ngồi xe lăn đi lại khó khăn, tinh thần không được minh mẫn, sau đó bà T6 bị tai biến, sức khỏe yếu không đến Văn phòng C7 ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015. Việc ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015 là giả cách nhằm che giấu việc chị T4 vay tiền của anh Vũ Quý L2. Có yêu cầu độc lập:
- Yêu cầu tuyên bố HĐCNQSDĐ số 1409.2015 vô hiệu.
- Yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CB 781973 do Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 15/01/2016 mang tên anh V; cập nhật việc chuyển nhượng cho anh C và chị Bùi Thị Huyền T2 ngày 22/01/2016.
- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H do Chi nhánh Văn phòng Đ1 - quận H đại diện theo ủy quyền cung cấp và trình bày:
- Hồ sơ cấp GCNQSDĐ số BR 588948 cấp ngày 30/6/2014 cho ông Văn Trọng C1 của UBND quận H
- Hồ sơ cấp GCNQSDĐ số CB 781973 do Sở T cho anh Nguyễn Quốc V; đã xác nhận đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng cho anh C và chị T2 chỉnh lý trang 3 của GCN.
- Hồ sơ đăng ký biến động tại giấy GCNQSDĐ số CB 781973 cho anh C và chị Bùi Thị Huyền T2:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 129/2016/HĐCN do Văn phòng C8 lập ngày 16/01/2016 (Sau đây viết tắt là HĐCNQSDĐ số 129). Chuyển nhượng thửa đất số 76 từ anh V cho anh C và chị T2.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02695 do Văn phòng C6 lập ngày 05/5/2016.
Quá trình biến động thửa đất và sau khi anh V được cấp GCNQSDĐ số CB 781973, Chi nhánh văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận H không nhận được đơn thư, kiến nghị có liên quan đến Giấy chứng nhận và thửa đất nêu trên. Tại thời điểm đăng ký biến động đối với GCNQSDĐ số CB781973, trong số thông báo, Quyết định thu hồi đất, Chi nhánh không nhận được thông báo, quyết định thu hồi đất đối với giấy chứng nhận trên. Căn cứ về chức năng nhiệm vụ Chi nhánh không quản lý và xét cấp bổ sung đối với phần diện tích thừa so với Giấy chứng nhận đã cấp. Về tọa độ vị trí thửa đất, Chi nhánh cung cấp hồ sơ kỹ thuật và biên bản mô tả ranh giới mốc giới thửa đất được UBND phường Q xác nhận. Ngày 05/5/2016, Chi nhánh Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận H đã xác nhận đăng ký nội dung thế chấp tại Ngân hàng Đại chúng. Hiện tại Chi nhánh chưa nhận được hồ sơ liên quan đến giao dịch đảm bảo đối với Giấy chứng nhận nêu trên.
- Văn phòng C5 (Sau đây viết tắt là VPCC Trần Minh H3) trình bày:
Ngày 14/10/2015, ông C1, bà T6 đã ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 76; GCNQSDĐ số BR 588948 do Công chứng viên Lương Thị Kim A1 của Văn phòng C7 (Nay là VPCC Trần Minh H3) chứng nhận ngày 14/10/2015. Hồ sơ công chứng của HĐCNQSDĐ số 1409.2015 hiện đang được lưu trữ tại trụ sở Văn phòng theo quy định. Khẳng định: Tại thời điểm đăng ký công chứng hợp đồng, các bên đã xuất trình các giấy tờ theo quy định pháp luật; các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên tự đọc lại, hiểu nguyên văn nội dung của Hợp đồng và tự nguyện ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015. Hai bên đã ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015 tại: Trụ sở VPCC Trần Minh H3 ở địa chỉ: T đất số 13, tờ bản đồ số 41, tổ dân phố K, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội.
Nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các thành viên trong hộ gia đình ông C1 yêu cầu tuyên HĐCNQSDĐ số 1409.2015 vô hiệu: VPCC Trần Minh H3 đề nghị Tòa án xem xét, đánh giá chứng cứ, lời khai của đương sự và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông C1 và các đương sự gồm: Bà T6, anh S, chị C2; anh L1, chị P, chị P thông nhất trình bày:
Tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh:
UBND phường Q, quận H cung cấp:
- Theo bản đồ và sổ mục kê lập năm 1985 thể hiện diện tích đất nêu trong vụ án thuộc thửa đất số 01; tờ bản đồ số 05 diện tích 16.523m², loại đất cơ quan, đứng tên chủ sử dụng Công ty N2 (bản đồ biên tập bằng giấy không có toạ độ). Theo sơ đồ khu tập thể công ty N2 do Sở địa chính H, Sở X, UBND thị xã H, Phòng Địa chính thị xã H, UBND phường Q tháng 6/1995 là thửa số 76, diện tích 55,0 m² (bản giấy không thể hiện toạ độ đo vẽ). Theo hệ thống bản đồ, sổ mục kê lập năm 1998 là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 22, diện tích 87,2m², loại đất là đất ở, tên chủ sử dụng là Văn Trọng C1. Ngày 30/6/2014, UBND quận H cấp GCNQSDĐ số BR 588948 cho ông Văn Trọng C1 (đo theo toạ độ HN72 không thể hiện phần diện tích cấp GCN và diện tích chưa cấp GCN).
- Ngày 15/4/2014 Công ty cổ phần K đã trích đo hồ sơ kỹ thuật thửa đất và bản mô tả ranh giới mốc giới thửa đất được UBND phường Q xác nhận: Sử dụng ổn định, không tranh chấp về đất đai và ký đóng dấu ngày 05/6/2014 (bản trích đo toạ độ giả định không phải trích đo toạ độ VN 2000, trong bản trích đo không xác định được vị trí cụ thể theo GCN và vị trí chưa cấp giấy chứng nhận).
- Ngày 15/01/2016 Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp GCNQSDĐ số CB 781973 đứng tên anh V. Chỉnh lý trang 3 của GCNQSDĐ số CB 781973 chuyển nhượng cho anh C và chị T2.
- UBND phường Q không có căn cứ để xác định diện tích đã được UBND quận H cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất số 76 và diện tích chưa được cấp được giấy chứng nhận. Hiện nay theo phản ánh của Trường P2 phần ranh giới phía sau của thửa đất số 76, tại số A ngõ B Q, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội đang có một phần diện tích đất của nhà trường. UBND phường Q đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ xác định:
Tại địa chỉ số A, tổ A, ngõ B, Q, phường Q, quận H, Hà Nội có: Ông C1, bà T6, anh S, chị C2, cháu H1, cháu H2; anh L1, chị P và 2 con anh L1, chị P là cháu N và U là những có hộ khẩu thường trú, sinh sống tại nhà đất này. Nhà 3,5 tầng có tứ cận giống như hình thể trong GCNQSDĐ, diện tích đất đo thực tế là 76,1m².
Công an xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên cung cấp ngày 27/10/2021: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1989 hiện tại không có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Qua khai thác trên cơ sở D1 về dân cư thấy anh V đang thường trú tại Tổ dân phố số B, phường C tập thể Học viện C4, quận B, Hà Nội.
Công an xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương cung cấp:
Tiến hành xác minh tại thôn V, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương có công dân có họ tên là Vũ Quý L2, sinh năm 1986. Trong sổ HK11 tại quyển 05 trang số 11 thôn V, chủ hộ Vỹ Quý T7. Tại mục số 03 thông tin Vũ Quý L2 đã gạch tên và nội dung điều chỉnh, thay đổi có thông tin đi Hà Nội. Quá trình làm việc với gia đình, ông T7 cho biết năm 2011 con ông là Vũ Quý L2 đã chuyển khẩu lên Hà Nội. Hiện trong sổ hộ khẩu số 0154 chủ hộ là ông T7 tại trang số 04 có tên Vũ Quý L2, sinh ngày 01/6/1986 nhưng không có dấu xác nhận, không có thông tin chuyển khẩu. Hiện gia đình và địa phương không biết anh L2 đi đâu, làm gì, sinh sống ở đâu.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Đại chúng:
Đề nghị buộc vợ chồng anh C phải trả số tiền còn nợ theo HĐCV số 024, tính đến ngày xét xử 27/9/2022 là 3.265.836.418 đồng (trong đó nợ gốc là 1.586.680.000 đồng; lãi trong hạn là 939.191.048 đồng, lãi quá hạn 739.965.370 đồng) cùng khoản tiền lãi phát sinh, các khoản phí và chi phí phát sinh khác liên quan theo HĐCV số 024 tính từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi anh C, chị T2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp anh C, chị T2 không trả được nợ, đề nghị Tòa án yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp của anh C, chị T2 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của anh C, chị T2 là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 76 theo GCNQSDĐ số CB 781973, xác nhận chuyển nhượng cho anh C, chị T2 theo HĐTC số 02695, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 05/5/2016.
Anh C đề nghị trả nợ gốc cho Ngân hàng Đại chúng, nếu Ngân hàng Đại chúng không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền của các thành viên tron hộ gia đình bà T6:
không nhất trí với yêu cầu khởi kiện về xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn vì khi cho vay tiền ngân hàng không tiến hành thẩm định tài sản; các thành viên hộ gia đình bà T6 vẫn sinh sống trên đất nhưng không biết việc anh C, chị T2 đã thế chấp tài sản. Giữ nguyên yêu cầu độc lập đề nghị tuyên HĐCNQSDĐ số 1409.2015 là vô hiệu và tuyên hủy GCNQSDĐ cấp cho anh V đã xác nhận chuyển nhượng cho anh C, chị T2;
Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST, ngày 05/05/2023, TAND quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Quyết định:
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đối với anh C và chị Bùi Thị Huyền T2 ...
- Buộc anh C và chị Bùi T2 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tổng tiền nợ tính đến ngày 27/9/2022 là 3.265.836.418 đồng (trong đó nợ gốc là 1.586.680.000 đồng; lãi trong hạn là 939.191.048 đồng, lãi quá hạn 739.965.370 đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu anh Trịnh Văn C và chị Bùi Thị Huyền T2 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 00, có địa chỉ tại: Số A, tổ A ngõ B Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 781973; ... cho anh Nguyễn Quốc V, ngày 22/01/2016 Văn phòng Đ1 – Chi nhánh quận H xác nhận chuyển nhượng cho anh Trịnh Văn C và chị Bùi Thị Huyền T2 theo Hợp dồng thế chấp số công chứng: 02695.2016/HĐTC; .... (diện tích theo GCNQSDĐ là 55m², diện tích thực tế là 76 m² (có sơ đồ kèm theo). Tài sản trên bảo đảm cho số tiền vay tính đến ngày xét xử 27/9/2022 là 3.265.836.418 đồng (trong đó nợ gốc là 1.586.680.000 đồng; lãi trong hạn là 939.191.048 đồng, lãi quá hạn 739.965.370 đồng) .
Tạm giao cho anh C, chị T2 quản lý sử sụng diện tích đất thừa không có trong GCNQSDĐ cho đến khi cơ quan có thẩm quyền có quyết định, thi hành.
Trong trường hợp phải xử lý tài sản nêu trên, những người sinh sống, cư trú trên toàn bộ diện tích nhà, đất đang thế chấp phải có trách nhiệm bàn giao tài sản đảm bảo cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để thi hành án theo quy định pháp luật.
Trường hợp việc phát mại tài sản thế chấp mà không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Trịnh Văn C và chị Bùi Thị Huyền T2 vẫn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
Kể từ sau ngày 27/9/2022, anh C và chị Bùi Thị Huyền T2 phải tiếp tục chịu lãi đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng cho vay mà hai bên đã ký.
Bản án còn tuyên về phần án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm.
Bà T6, anh S kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết:
- Tuyên bố HĐCNQSDĐ số 1409.2015 vô hiệu, giải quyết hậu quả Hợp đồng vô hiệu.
- Yêu cầu hủy GCNQSDĐ số CB781973 cấp ngày 15/01/2016 đứng tên V; cập nhật chuyển nhượng cho ông C và bà T2 ngày 22/01/2016.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm:
Anh S, chị P, bà T6 có nhiều đơn trình bày với nội dung: Ông C1, bà T6 bị tai biến từ năm 2015. Ngày 24/01/2021, sau khi tiếp TAND quận Hoàn Kiếm và UBND phường Q, tổ trưởng tổ dân phố nơi gia đình bà T6 đang sinh sống, mới biết ngôi nhà của gia đình bà T6 đang ở là tài sản thế chấp đã mang tên anh C, chị T2 bị Ngân hàng Đại chúng khởi kiện. Gia đình bà T6 không bán nhà đất cho ai khác, căn nhà là tài sản duy nhất gia đình đang sinh sống, không ai trong gia đình biết việc chuyển nhượng.
Chị Văn Thị Thu T4 có đơn trình bày: Vào năm 2015, chị cần tiền cho việc kinh doanh, qua giới thiệu nên biết anh Vũ Quý L2 và chị Nguyễn Thị Hồng T8. Chị đã đề nghị vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Để được vay số tiền này, chị T8 và anh L2 yêu cầu chị đưa sổ đỏ gốc của bố mẹ chị cho họ giữ và ký một số văn bản, giấy tờ do họ soạn thảo sẵn để làm tin. Chị đã lấy bản gốc GCNQSDĐ số BR 588948 của bố mẹ chị (ông C1, bà T6) đưa cho chị T8, anh L2 giữ. Đồng thời, chị đưa bản Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được soạn thảo sẵn (do chị T8, anh L2 đưa đến nhà riêng để đưa cho bố mẹ chị ký, đó chính là HĐCNQSDĐ số 1409.2015). Khi đó, bố chị là ông C1 bị bệnh tai biến liệt nửa người trái, mẹ chị sau đó cũng bị tai biến sức khoẻ rất yếu. Chị đã cầm tay ông C1 để ký và lăn dấu vân tay vào văn bản HĐCNQSDĐ số 1409.2015. Bố mẹ chị hoàn toàn không có ý chí chuyển nhượng thửa đất số 76, chị cũng không biết việc ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015 với mục đích chuyển nhượng cho người khác mà theo chị T8, anh L2 thì chỉ ký để làm tin cho việc vay tiền. Chị và bố mẹ chị chưa gặp và cũng không có thoả thuận, giao dịch với anh V, không biết anh V là ai, anh V ký vào HĐCNQSDĐ số 1409.2015 khi nào. Sau đó chị không nhận được số tiền mà chị đề nghị vay từ chị T8, anh L2.
Bà T6 đã có yêu cầu giám định chữ ký, dấu vân tay của ông C1, bà T6 trong HĐCNQSDĐ số 1409.2015. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhiều lần hoãn phiên tòa để các đương sự cung cấp tài liệu chứng cứ và tiến hành thủ tục giám định. Ngày 13/8/2024 bà T6 và chị P là người đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế của ông C1 đã có “Đơn đề nghị không trưng cầu giám định” nộp tại TAND Thành phố Hà Nội ngày 13/8/2024 về việc không đề nghị trưng cầu giám định chữ ký, dấu vân tay của ông C1, bà T6 trong HĐCNQSDĐ số 1409.2015
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 26/11/2024:
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của bà T6 (Người kháng cáo) trình bày bản tranh luận (Được lưu trong hồ sơ vụ án). Có các nội dung cụ thể như sau:
Năm 2015, chị T4 (con ông C1, bà T6) cần vay tiền, đã mượn GCNQSDĐ số BR 588948 của ông C1 để vay tiền Ngân hàng TMCP T9. Chị T4 gặp anh L2 và được anh L2 yêu cầu chị T4 giao sổ đỏ và giấy tờ tùy thân của người đứng tên trong sổ đỏ để thẩm định sẽ cho chị T4 vay 1.000.000.000 đồng. Do tin tưởng nên chị T4 đã mượn và giao bản gốc GCNQSDĐ số BR 588948 cùng hồ sơ nhân thân, sổ hộ khẩu của vợ chồng ông C1 - bà T6. Vào khoảng 22 giờ đêm ngày cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 2015, Anh L2 đến nhà ông C1 cùng hai khác người đưa cho chị T4 một số giấy tờ được đánh máy và có cả giấy trắng yêu cầu vợ chồng ông C1- bà T6 ký. Khi đó ông C1 đang nằm ngủ trên giường bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, mắt kém, tai điếc, không nhận thức rõ được hành vi, anh L2 nói với chị T4 và cầm tay ông C1 ký, điểm chỉ. Sau đó chị T4 gọi bà T6 từ trên tầng xuống, anh L2 giới thiệu ở bên ngân hàng, đang làm thủ tục giúp chị T4 vay tiền, yêu cầu bà T6 ký. Mặc dù không đọc, không biết giấy tờ ghi nội dung gì nhưng bà T6 ký và anh L2 cầm tay bà điểm chỉ vào giấy tờ (Anh L2 có nói với với chị T4 là chỉ là ký giả cách để hợp thức hóa việc cho vay). Sau khi ký, điểm chỉ xong, anh L2 và những người đi cùng cầm toàn bộ giấy tờ và GCNQSDĐ số BR 588948 của ông C1 ra về. Sau đó chị T4 không vay được tiền, không liên lạc với anh L2; nhưng không báo lại cho bà T6. Do đó vợ chồng bà T6 không biết có HĐCNQSDĐ số 1409.2015. Tháng 6/2017, bà T6 thấy có vụ kiện anh C khởi kiện chị T4 đòi ngôi nhà 19A3 là nhà vợ chồng bà T6 và gia đình đang ở. Đến ngày 20/8/2018 thấy có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của TAND quận Hà Đông. Nay không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ về việc xử lý tài sản thế chấp. Vì:
Vợ chồng bà T6 không chuyển nhượng nhà đất thửa đất số 76; GCNQSDĐ số BR 588948 cho bất kỳ ai. HĐCNQSDĐ số 1409.2015 có chữ ký, điểm chỉ của vợ chồng bà T6 nhưng vợ chồng bà không biết, chưa bao giờ đến bất kỳ Văn phòng công chứng nào để ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015. Nhà đất này vẫn do gia đình bà T6 đang quản lý sử dụng, không biết việc anh C - chị T2 đã thế chấp tài sản. Khi Ngân hàng Đại chúng nhận thế chấp tài sản với vợ chồng anh C không tiến hành thẩm định tài sản nên không biết nhà đất này vẫn do gia đình bà T6 đang quản lý, sử dụng và sinh sống trên nhà đất đã nhận thế chấp theo HĐTC số 02695. Việc Ngân hàng Đại chúng tự đến ngôi nhà 19A3 của gia đình, tự chụp ảnh và có ghi tên chị Nguyễn Thu C2 là khách hàng vay vốn là không đúng pháp luật vì đây là nhà đất của vợ chồng bà T6, chị C2 chỉ là con dâu ở cùng gia đình, không có quyền chứng kiến hay yêu cầu Ngân hàng thẩm định, định giá. Xác định: Vũ Quý L2 đã lợi dụng vợ chồng bà T6 già cả, ốm yếu, thiếu hiểu biết pháp luật, lừa dối việc cho chị T4 vay tiền rồi lấy chữ ký và dấu vân tay của vợ chồng bà T6 hoàn thiện HĐCNQSDĐ số 1409.2015. Sau đó lại chuyển nhượng cho anh V. Thực tế vợ chồng bà T6 không chuyển nhượng nhà đất thửa đất số 76 cho ai; không hề nhận được bất kỳ khoản tiền nào, không bàn giao nhà đất cho ai; Vẫn là người đang quản lý sử dụng nhà đất GCNQSDĐ số BR 588948. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm. Sửa bản án sơ thẩm:
- Tuyên HĐCNQSDĐ số 1409.2015 vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
- Tuyên huỷ GCNQSDĐ số CB781973 đứng tên Nguyễn Quốc V; cập nhật chuyển nhượng cho anh C và chị Bùi Thị Huyền T2 ngày 22/01/2016.
- Buộc Vũ Quý L2, Nguyễn Quốc V, Trịnh Văn C, Bùi Thị Huyền T2 trả lại GCNQSDĐ số BR 588948 cho gia đình bà T6.
Bà T6, anh S có mặt tại phiên tòa nhất trí với toàn bộ ý kiến trình bày của Luật sư.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày tranh luận:
Không nhất trí với tranh luận của các Luật sư S, T5. Xác định HĐCV số 024 là Hợp đồng cho vay có tài sản thế chấp, đảm bảo. Không đồng ý việc khoản tiền cho vay theo HĐCV số 024 không có tài sản đảm bảo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của bà T6, anh S. Thừa nhận: Ngân hàng Đ có sai sót về chính tả tại “Báo cáo định giá Bất động sản” ngày 16/9/2015 ghi nhầm tên “Khách hàng vay vốn” là bà Nguyễn Thu C2. Mặc dù “Báo cáo định giá Bất động sản” được lập trước ngày ký HĐCV số 024 và HĐTC số 02695 nhưng Ngân hàng Đ có quyền thực hiện thẩm định tài sản cho vay trước khi ký HĐCV số 024 và HĐTC số 02695 theo quy định.
Chị T4 trình bày tranh luận:
Giữ nguyên các quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm, nhất trí với toàn bộ ý kiến tranh luận của các Luật sư S, T5. Xác định bản chính “Văn bản thỏa thuận kiêm cam kết 02 bên” ngày 01/12/2016, ngày 20/01/2017 và “Văn bản thỏa thuận kiêm giấy biên nhận nhận tiền đặt cọc” ngày 20/3/2017 do anh C giữ và xuất trình tại TAND quận Hà Đông trong hồ sơ vụ án mà TAND quận Hà Đông giải quyết việc anh C khởi kiện đòi nhà cho thuê đối với chị.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa không gửi văn bản trình bày quan điểm ý kiến với Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết toàn bộ vụ án.
Kiểm sát viên VKSND Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
Toà án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến quá trình xét xử tại phiên tòa. Người kháng cáo thực hiện thủ tục kháng cáo trong thời hạn luật định.
Về nội dung:
Sau khi đánh giá phân tích về nội dung vụ án theo bản phát biểu được lưu trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà T6 và anh S. Sửa bản án sơ thẩm về miễn án phí dân sự cho bà T6.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1].Về tố tụng
- Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
- Các đương sự không kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt họ là đúng quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về Nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà T6, anh S, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Bà T6, anh S cùng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng có yêu cầu kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm: Tuyên HĐCNQSDĐ số 1409.2015 vô hiệu; giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu; Tuyên huỷ GCNQSDĐ số CB781973 đứng tên anh Nguyễn Quốc V; cập nhật chuyển nhượng cho anh C và chị T2 ngày 22/01/2016. Nên được Hội đồng xét xử xét chung:
Quá trình giải quyết vụ án, chị T4 giao nộp:
Hai “Văn bản thỏa thuận kiêm cam kết 02 bên” ( BL 188,189,190,191 một văn bản đề ngày 01/12/2016 và ngày 20/01/2017 ) thể hiện: Chị T4 (Bên A) là chủ sử dụng hợp pháp nhà đất thửa đất số 76, tại địa chỉ: Số A, tổ A ngõ B Q, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội; theo GCNQSDĐ số CB781973 do bố mẹ đẻ là ông C1- bà T6 đứng tên hộ, gia đình Bên A ủy quyền cho bên A sử dụng để đi vay tiền. Tháng 10/2015 T4 (bên A) đã vay của anh C (bên B) 1.500.000 đồng với lãi suất 2.000 đồng/1triệu/1ngày. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ Bên A (chị T4) đã ký hợp đồng công chứng chuyển nhượng cho bên B (anh C) nhà đất Số A, tổ A ngõ B Q, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội; thời hạn vay 06 tháng, sau 06 tháng nếu bên A trả cho B đủ gốc, lãi đúng hạn thì bên B sẽ chuyển nhượng ngược lại nhà đất nêu trên cho bên A. “ Bên B đồng ý gia hạn lần thứ 03 cho bên A, Thời hạn chậm nhất là ngày 30/3/2017”; “Sau ngày 30/3/2017 bên A không thu xếp được đủ số tiền 1.500.000.000 đồng ... ngoài số tiền 1,5 tỷ đồng, Bên A phải thanh toán cho bên B đầy đủ số tiền lãi tính từ thời điểm vay...”.
Một “Văn bản thỏa thuận kiêm giấy biên nhận nhận tiền đặt cọc” ngày 20/3/2017 (BL số 192,193,194) có nội dung: Bên A (anh C) là chủ sử dụng hợp pháp nhà đất Số A, tổ A ngõ B Q theo GCNQSDĐ số CB781973. Hiện Bên A đang cho bên B (chị T4) thuê để gia đình sinh sống. Bên A đồng ý chuyển nhương cho bên B với giá 3.410.000.000 đồng. Tại thời điểm ký kết văn bản này, Bên B đã đặt cọc cho bên A số tiền 200.000.000 đồng. Số tiền còn lại 3.210.000.000 đồng phải thanh toán thời hạn từ 20/3/2017 đến 30/3/2017. Nếu hết thời hạn không thanh toán xong thì bên B mất số tiền đặt cọc, chịu phạt cọc và mất quyền mua lại.
Như vậy. Mặc dù: HĐCNQSDĐ số 1409.2015 được công chứng ngày 14/10/2015; ngày 15/01/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã cấp đổi từ GCNQSDĐ số BR 588948 đứng tên ông C1 thành GCNQSDĐ số CB781973 đứng tên anh Nguyễn Quốc V; cập nhật việc chuyển nhượng cho anh C và chị T2 ngày 22/01/2016. Tuy nhiên.
Ngày 20/01/2017 chị T4 và anh C (Người được đính chính là chủ sử dụng thửa đất số 76) vẫn thỏa thuận: Chị T4 (Bên A) là chủ sử dụng hợp pháp nhà đất thửa đất số 76 theo GCNQSDĐ số CB781973 do bố mẹ đẻ là ông C1- bà T6 đứng tên hộ. Gia đình chị T4 ủy quyền cho chị T4 sử dụng để đi vay tiền. Cấp sơ thẩm không yêu cầu các đương sự cung cấp tài liệu chứng cứ về “Văn bản thỏa thuận kiêm cam kết 02 bên” ngày 01/12/2016, ngày 20/01/2017 và “Văn bản thỏa thuận kiêm giấy biên nhận nhận tiền đặt cọc” ngày 20/3/2017 hoặc thu thập các tài liệu này theo quy định pháp luật. Do đương sự không xuất trình bản chính các văn bản này nên cấp sơ thẩm không có căn cứ tiến hành đối chất giữa anh C, chị T4 về 03 văn bản này để xác định việc ông C1 (Người kế thừa ông C1) và bà T6 cho rằng việc ký HĐCNQSDĐ số 1409.2015 là giả tạo nhằm che giấu quan hệ vay tiền của chị T4. Có yêu cầu độc lập đề nghị tuyên HĐCNQSDĐ số 1409.2015 vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu quan hệ vay tiền được cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu độc lập.
Việc yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Cấp sơ thẩm không nhận được yêu cầu về giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu nên không tiến hành định giá tài sản (đối tượng) chuyển nhượng tại HĐCNQSDĐ số 1409.2015 để xác định giá trị Hợp đồng và thiệt hại của Hợp đồng (nếu có).
Mặt khác: Theo HĐCNQSDĐ số 1409.2015; Vợ chồng bà T6 chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng 55m² đất tại thửa đất số 76 theo GCNQSDĐ số BR 588948 đứng tên ông C1 không ghi nhận (không đăng ký quyền sở hữu nhà 3,5 tầng và tài sản gắn liền trên đất tại GCNQSDĐ số BR 588948); Không có điều khoản nào thể hiện việc vợ chồng bà T6 đã chuyển nhượng nhà 3,5 tầng và các tài sản gắn liền trên diện tích 55m² đất chuyển nhượng cho anh V. Trường hợp HĐCNQSDĐ số 1409.2015 có hiệu lực pháp luật thì cũng chưa đủ căn cứ xác định vợ chồng bà T6 đã chuyển nhượng nhà 3,5 tầng và các tài sản gắn liền trên diện tích 55m² đất cho anh V, sau đó anh V chuyển nhượng cho anh C cũng không thể hiện trên 55m² đất có nhà 3,5 tầng và các tài sản gắn liền trên đất. Chưa có căn cứ xác định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà 3,5 tầng và các tài sản gắn liền trên đất là tài sản của người đã nhận chuyển nhượng. Tại HĐTC số 02695 anh C cũng chỉ thế chấp quyền sử dụng 55m² đất với Ngân hàng Đại chúng.
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ cấp sơ thẩm đã xác định: Tại địa chỉ số A, tổ A, ngõ B, Q, H, Hà Nội. Diện tích theo GCNQSDĐ là 55m², diện tích thực tế là 76,1 m² có sơ đồ kèm theo do những người thuộc gia đình bà T6 vẫn đang quản lý sử dụng. UBND phường Q đã xác định: Hiện nay theo phản ánh của Trường P2 phần ranh giới phía sau của thửa đất số 76 đang có một phần diện tích đất của nhà trường. GCNQSDĐ số BR 588948 ghi nhận quyền sử dụng 55m² đất tại thửa đất số 76; HĐCNQSDĐ số 1409.2015; vợ chồng bà T6 cũng chỉ chuyển nhượng cho anh V 55m² đất tại thửa đất số 76; Anh V được cấp GCNQSDĐ số CB781973 cũng chỉ ghi nhận anh V được quyền sử dụng 55m² đất tại thửa đất số 76; Anh V chuyển nhượng cho anh C, chị T2 và ngày 22/01/2016 anh C- chị T2 được đính chính quyền sử dụng 55m² đất tại thửa đất số 76; HĐTC số 02695 anh C cũng chỉ thế chấp quyền sử dụng 55m² đất với Ngân hàng. Nhưng cấp sơ thẩm tuyên “Tạm giao cho anh C, chị T2 quản lý sử sụng diện tích đất thừa không có trong GCNQSDĐ cho đến khi cơ quan có thẩm quyền có quyết định, thi hành”. Tức là tạm giao cho anh C, chị T2 quản lý sử sụng diện tích đất thừa (76,1 m2 - 55m² = 21,1m²) không thuộc diện tích giao dịch chuyển nhượng theo HĐCNQSDĐ số 1409.2015; HĐCNQSDĐ số 129; không thuộc GCNQSDĐ số CB 781973 và không thuộc đối tượng thế chấp tại HĐTC số 02695. Nhưng chưa có cơ sở xác định trên diện tích đất 21,1m² thừa này có tài sản gắn liền trên đất của gia đình bà T6 hay không; C3 phải xem xét đến nguồn gốc diện tích đất thừa này của Trường trung học phổ thông P2 hoặc của ai khác để đưa họ tham gia tố tụng theo quy định pháp luật.
Việc người kháng cáo yêu cầu giải quyết hậu quả của HĐCNQSDĐ số 1409.2015 vô hiệu tại cấp phúc thẩm là tình tiết mới. Nguyên đơn vẫn xác định khoản nợ của vợ chồng anh C- chị T2 là khoản nợ có tài sản đảm bảo theo HĐTC số 02695.
Do cấp sơ thẩm không nhận được yêu cầu định giá tài sản là đối tượng chuyển nhượng theo HĐCNQSDĐ số 1409.2015; HĐCNQSDĐ số 129 đã thế chấp theo HĐTC số 02695 nên không tiến hành định giá. . Trường hợp có căn cứ xác định HĐCNQSDĐ số 1409.2015 và HĐCNQSDĐ số 129 có hiệu lực pháp luật thì cũng không có căn cứ để xác định giá trị của tài sản không thuộc HĐCNQSDĐ số 1409.2015; HĐCNQSDĐ số 129 và HĐTC số 02695 bị xử lý trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ tại HĐCV số 024 theo quy định tại khoản 2 Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó cấp phúc thẩm không thể khắc phục việc định giá tài sản để xác định thiệt hại của HĐCNQSDĐ số 1409.2015 nếu bị tuyên vô hiệu. Để đảm bảo về việc yêu cầu của đương sự phải được xem xét theo trình tự hai cấp xét xử. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T6, anh S. Áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm. Quan điểm của Hội đồng xét xử phúc thẩm: Việc phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về tòa sơ thẩm xét xử lại do có tình tiết mới do đương sự yêu cầu giải quyết hậu quả Hợp đồng vô hiệu tại cấp phúc thẩm nên không có lỗi chủ quan của Hội đồng xét xử sơ thẩm.
Đối với yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án đến quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H khởi tố vụ án hình sự. Do Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm. Nên quá trình giải quyết vụ án sẽ do Tòa án cấp sơ thẩm quyết định.
[3]. Về án phí:
- Tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đương sự đã nộp và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết theo trình tự sơ thẩm.
- Do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 147, Điều 148; khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bà Đinh Thị T3 và anh Văn Trọng S. Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST, ngày 05/05/2023, TAND quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Giao hồ sơ vụ án về TAND quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí:
- Tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đương sự đã nộp và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết theo trình tự sơ thẩm.
- Bà Đinh Thị T3 và anh Văn Trọng S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh Văn Trọng S 300.000 đồng tạm ứng dân sự phúc thẩm đã nộp theo “Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số AA/2020/0052394 ngày 16/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Thành phố Hà Nội;
- TAND quận Hoàn Kiếm;
- Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
- Lưu Hồ sơ vụ án/ VP.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Đỗ Minh Hoàng |
Bản án số 677/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 677/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ Bị đơn: Trịnh Văn C
