Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 677/2023/HC-PT

Ngày: 15-8-2023

“V/v khiếu kiện quyết định
hành chính về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực đất đai thuộc
trường hợp bồi thường, hỗ trợ
giải phóng mặt bằng, tái định
cư".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Khương
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Trung – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 325/2023/TLPT-HC ngày 18 tháng 5 năm 2023 về việc “khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 17 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1758/2023/QĐ-PT ngày 10/7/2023 giữa các đương sự:

  • - Người khởi kiện: Bà Dương Thị Cẩm T, sinh năm 1974 (có mặt).
  • Địa chỉ: Số B tỉnh lộ 9, ổ A, ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Đặng Đình T1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q (có mặt)
  • Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Số G Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C (Giấy ủy quyền số 3968/UQ-UBND ngày 10/5/2022 - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

  • - Ông Võ Thành N – Phó trưởng ban, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C (có mặt);
  • - Ông Nguyễn Thanh S – Chuyên viên Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Địa chỉ: G H (tỉnh lộ 9), xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Mộng T2 – Công chức địa chính – Nông nghiệp – Xây dựng – Môi trường (Giấy ủy quyền số 827/UBND-UQ ngày 21/6/2017 – vắng mặt)

  3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Địa chỉ: Tỉnh lộ 8, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C (Giấy ủy quyền số 3967/UQ-UBND ngày 10/5/2022 - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

    • - Ông Võ Thành N – Phó trưởng ban, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C (có mặt);
    • - Ông Nguyễn Thanh S – Chuyên viên Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C (có mặt).

- Người kháng cáo: người khởi kiện bà Dương Thị Cẩm T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện bà Dương Thị Cẩm T trình bày:

Năm 1992, mẹ của bà là bà Dương Thị H có cho bà bằng giấy tay 02 căn nhà cấp 4 và 260m² đất thổ cư thuộc một phần các thửa 86, 87, tờ bản đồ số 11 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB), theo bộ địa chính xã B, huyện C trong tổng diện tích 4.566m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 452/QSDĐ/ĐG+CMXD ngày 24/12/1999.

Ngày 24/12/2012, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định thu hồi đất số 11784/QĐ-UBND thu hồi 820,7m² đất của bà Dương Thị H cư ngụ tại ấp

E, xã B, thuộc thửa đất số 94-1, 95-1, 558-1 và rạch; tờ bản đồ số 24 (theo tài liệu đo đạc năm 2003).

Ngày 05/8/2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định bồi thường số 7776/QĐ-UBND về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho bà Dương Thị H, với tổng số tiền: 2.283.085.219 đồng.

Ngày 26/8/2015, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6511/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 11784/QĐ-UBND ngày 24/12/2012 về thu hồi đất bị ảnh hưởng bởi dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp đường Tỉnh lộ 9 (10 cầu), xã B, huyện C đối với bà Dương Thị H, từ: “Thu hồi 820,7m² đất của bà Dương Thị H cư ngụ tại ấp E, xã B, thuộc thửa đất số 94-1, 95-1, 558-1 và rạch; tờ bản đồ số 24 (theo tài liệu đo đạc năm 2003), thành thu hồi 869,6m² đất của bà H tờ bản đồ số 11 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB) và một phần thửa 558 và rạch, thuộc thửa đất số 94-1, 95-1, 558-1 và rạch, @ đường; tờ bản đồ số 24 (theo tài liệu đo đạc năm 2003). Diện tích có tăng 48,9m² do bổ sung phần diện tích @ đường.

Sau khi có Quyết định thu hồi đất điều chỉnh, ngày 01/10/2015, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định bồi thường số 7305/QĐ-UBND (sau đây gọi là Quyết định số 7305) theo đó hộ bà Dương Thị Cẩm T được bồi thường, hỗ trợ số tiền: 1.200.471.104 đồng.

Ngày 19/8/2016, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6775/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 879/QĐ-UBND ngày 02/02/2016 về giải quyết đơn khiếu nại của bà Dương Thị Cẩm T của Chủ tịch UBND huyện C với lý do: Thời điểm xây dựng nhà của hộ này là sau ngày 22/4/2002 (theo báo cáo số 294/BC-UBND ngày 05/5/2016 của UBND xã B).

Ngày 24/8/2016, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6889/QĐ-UBND (sau đây gọi là Quyết định số 6889) về thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7305 đối với bà Dương Thị Cẩm T và làm lại thành 01 hồ sơ cho bà Dương Thị H.

Việc Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6889 về thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7305 để ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ cho bà Dương Thị H là ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của bà.

Nay giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về hủy Quyết định số 7305 và Quyết định số 6889.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C có văn bản trình bày:

Về quá trình giải quyết bồi thường cho hộ bà Dương Thị Cẩm T:

Bà Dương Thị H (là mẹ ruột của bà Dương Thị Cẩm T) đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 5.756,3m² (đã chuyển nhượng 1.867,2m² còn lại 3.889,1m²), gồm:

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 452/QSDĐ/ĐG+CMXD ngày 24/12/1999 với tổng diện tích 4.566m² thuộc các thửa 86 diện tích 1.949m² loại

đất vườn, thửa 85 diện tích 1.835m² loại đất màu, thửa 87 diện tích 736m² loại đất ao và thửa 420 diện tích 46m² loại đất thổ cư do chuyển mục đích từ đất thổ vườn sang đất thổ cư, thuộc tờ bản đồ số 11, tài liệu 02/CT-UB (Giấy chứng nhận này được cấp đổi từ Giấy chứng nhận số 2924 QSDĐ ngày 01/8/1995). Năm 2007, bà H tặng cho con là ông Phan Duy T3 phần đất diện tích 1.018,9m², ông T3 đã hợp thức hóa 64,9m² đất ở sau đó chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất trên cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị N1. Năm 2014, bà H tiếp tục chuyển nhượng phần đất diện tích 848,3m² cho bà Văn Thị N2 và bà N2 đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02087 ngày 16/12/2010 với tổng diện tích 1.190,3m² thuộc thửa số 558, tờ bản đồ số 24 (tài liệu bản đồ số), theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB thuộc một phần thửa 88, trọn thửa 89, tờ bản đồ số 11, thuộc bộ địa chính xã B. Năm 2011 bà Dương Thị H lập thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng từ loại đất nông nghiệp trồng cây lâu năm sang mục đích đất ở với diện tích 250m² (theo Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất số 11727/QĐ-UBND ngày 14/11/2011 của Ủy ban nhân dân huyện C). Qua kiểm tra thì phần diện tích 250m² đất ở này nằm ngoài ranh bồi thường của dự án.

Trong dự án đầu tư xây dựng công trình sửa chữa, nâng cấp đường T (10 cầu) tại xã B, huyện C, bà Dương Thị H bị ảnh hưởng phần đất có tổng diện tích 820.7m²/3.889,1m² thuộc một phần các thửa 86, 87, tờ bản đồ số 11 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB) và một phần thửa 558 và rạch, tờ bản đồ số 24, theo tài liệu bản đồ kỹ thuật số, bộ địa chính xã B.

Tổng nhân khẩu theo sổ hộ khẩu số: [...] là 04 người, trong đó bà H ở cùng 01 người con trai là Phan Duy T3, sinh năm 1984; 01 người con gái là Dương Thị Cẩm T, sinh năm 1974 và 01 người con rể là Bùi Trung H1, sinh năm 1972.

Hiện trạng trên mặt bằng khu đất của bà H bị ảnh hưởng gồm:

  • + Mái tole (chỗ đúc chậu kiểng) tách riêng biệt không gắn với nhà chính của bà H, có diện tích ảnh hưởng 209,2m²/240,1m², kết cấu: cột gỗ, nền đất, mái tole. Nhà chính của bà H không ảnh hưởng dự án.
  • + Cho con Phan Duy T3 cất nhà bị ảnh hưởng diện tích: 100,2m²/105,5m², rộng 5,59m, dài 14,47m, kết cấu mái tole, xà gồ sắt, cột sắt, nền bê tông, không có nhà bếp và nhà vệ sinh. Bà H vẫn còn đứng giấy đất, chưa tách hộ khẩu riêng, ông T3 chưa lập gia đình.
  • + Cho con Dương Thị Cẩm T cất nhà căn thứ nhất bị ảnh hưởng diện tích: 115,90m²/121,3 m², rộng trung bình 7,38m, dài 14,47m, kết cấu: mái tole, xà gồ sắt, cột sắt, nền bê tông không có nhà bếp và nhà vệ sinh. Căn thứ hai ảnh hưởng: 43,00m²/47,9m², rộng trung bình 4,37m, dài 11,69m, kết cấu: mái tole, xà gồ sắt, la phong tole lạnh, cột gạch, nền gạch ceramic, tường gạch xây tô, có nhà bếp và nhà vệ sinh. Bà H vẫn còn đứng giấy đất, chưa tách hộ khẩu riêng.
  • + Cho con Lê Cẩm H2 sinh năm 1977, cất nhà bị ảnh hưởng diện tích: 24,8m²/79,6m², rộng 6,49m, dài 12,42m, kết cấu: mái tole, xà gồ sắt, la phong tole lạnh, cột gạch, nền gạch ceramic, tường gạch xây tô (có một phần vách tole). Bà H vẫn còn đứng giấy đất, đã tách hộ khẩu riêng.

Ngoài ra trên đất còn một số vật kiến trúc cây cối hoa màu khác bị ảnh hưởng.

Sau khi tiến hành kiểm kê xong vào ngày 13/10/2011 (theo biên bản kiểm kê số BĐ008), Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng huyện tiến hành áp giá hồ sơ bà H theo biên bản xét năm xây dựng nhà của Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 14/01/2013 và ngày 08/4/2013 (trong đó năm xây dựng nhà của bà H vào năm 1997, ông T3 xây dựng 1980, bà T xây dựng tháng 11/1992, bà H2 xây dựng năm 1994). Sau khi áp giá xong, Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng huyện tham mưu Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định thu hồi đất số 11784/QĐ-UBND ngày 24/12/2012 và Quyết định bồi thường số 7776/QĐ-UBND ngày 05/8/2013 về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho bà Dương Thị H, với tổng số tiền: 2.283.085.219 đồng, bao gồm:

  • - Hỗ trợ đất ở mặt tiền đường tỉnh lộ 9 (do chuyển mục đích sử dụng làm nhà ở trước ngày 15/10/1993): 209,2m² x 5.000.000đ/m² = 1.046.000.000 đồng.
  • - Bồi thường, hỗ trợ Đất nông nghiệp trong khu dân cư mặt tiền Tỉnh lộ 9: 611,5m² x 802.500đ/m² = 490.728.750 đồng.
  • - Cây cối, hoa màu: 31.189.000 đồng.
  • - Nhà cửa: 651.333.600 đồng
  • - Bồi thường tài sản khác: 61.833.869 đồng (bao gồm: sân bê tông, hàng rào lưới B40, giếng khoang, chi phí di dời diện kế).
  • - Hỗ trợ di chuyển nhà: 2.000.000 đồng.

Không đồng ý với quyết định bồi thường nêu trên, bà H làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, sau 02 buổi đối thoại tại Tòa án huyện, Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng huyện có báo cáo Hội đồng bồi thường dự án về trường hợp hộ bà Dương Thị H đề nghị tách hồ sơ bồi thường riêng cho bà H và các con bà H.

Ngày 13/02/2015 Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng dự án có Công văn số 1196/UBND-BTGPMB về việc xin ý kiến giải quyết vướng mắc trong việc bồi thường đất đối với hộ bà Dương Thị H.

Ngày 27/4/2015, Ủy ban nhân dân thành phố có Công văn số 2305/UBND-ĐTMT, có nội dung: Chấp thuận theo đề nghị của Hội đồng Thẩm định bồi thường Thành phố tại Công văn số 299/HĐTĐBT-TTr ngày 08/4/2015 cho áp dụng khoản 2 Điều 15 Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 28/5/2010 của Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, có quy định: “Trường hợp tự chuyển mục đích sử dụng làm nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày có Quyết

định thu hồi đất hoặc trước ngày công bố quy hoạch, cắm mốc phạm vi hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật và trước ngày 22/4/2002, thì người đang sử dụng đất được hỗ trợ về đất ở bằng 100% đơn giá, nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định” để hỗ trợ 03 người con của bà H và bà H (diện tích đất để tính hỗ trợ cho từng hộ là diện tích thực tế xây dựng).

Căn cứ Công văn trên, Ban bồi thường đã chiết tính tách hồ sơ bồi thường của bà H, lập hồ sơ bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Dương Thị Cẩm T, cụ thể:

  1. Tách từ hồ sơ kiểm kê ngày 13/10/2011 của hộ bà Dương Thị H ra cho hộ bà Dương Thị Cẩm T:
    • - Diện tích đất bị ảnh hưởng thu hồi: 201,1m²;
    • - Phần diện tích mái tole 3 bị ảnh hưởng/diện tích sử dụng: 115,9m²/121,3m² (kết cấu cột sắt, xà gồ sắt, nền bê tông, mái tole).
    • - Phần diện tích mái tole 4+5 bị ảnh hưởng/diện tích sử dụng: 16m²/16m² (kết cấu cột sắt, vách lưới B40, nền ½ gạch ceramic ½ xi măng, mái tole).
    • - Phần diện tích tường tole 4 bị ảnh hưởng/diện tích sử dụng: 43m²/47,9m² (kết cấu cột gạch xây tô, đà bê tông, vách tường gạch xây tô, nền gạch ceramic, trần tole, mái tole, xà gồ sắt).
    • - Hàng rào lưới B40 khung sắt : 23,66m².
    • - Sân bê tông: 26,3m2
  2. Sau đó điều chỉnh hồ sơ kiểm kê mới cho bà Dương Thị Cẩm T vào ngày 17/11/2014:
    • - Diện tích đất bị ảnh hưởng thu hồi: 201,1m²;
    • - Phần diện tích mái tole 4 bị ảnh hưởng/ diện tích sử dụng: 54,3m²/57,7m² (kết cấu cột sắt, nền bê tông + gạch men, mái tole).
    • - Phần diện tích mái tole 5 bị ảnh hưởng/ diện tích sử dụng: 68,9m²/70,9m² (kết cấu cột sắt, nền bê tông, mái tole).
    • - Phần diện tích mái tole 6 bị ảnh hưởng/ diện tích sử dụng: 15,9m²/15,9m² (kết cấu cột sắt, nền bê tông, mái tole).
    • - Phần diện tích tường tole bị ảnh hưởng/ diện tích sử dụng: 43m²/47,9m² (kết cấu cột gạch xây tô, đà bê tông, vách tường gạch xây tô có 30,3m² dán gạch men, nền gạch ceramic, trần tole lạnh viền thạch cao, mái tole).
    • - Hàng rào lưới B40 khung sắt : 23,66m².

Qua đo đạc thực tế xác định phần diện tích tăng thêm 5,5m² trong đó có 4,9m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Dương Thị H theo tài liệu 02/CT-UB, và 0,6m² nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo tài liệu KTS là @ đường).

Qua đo đạc thực tế xác định phần diện tích đất của hộ bà H có sự chênh lệch so với trước đây (chênh lệch tăng) nên Ban Bồi thường đã chuyển hồ sơ của

bà H và các con của bà H qua Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện tham mưu Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 6511/QĐ-UBND ngày 26/8/2015 về việc điều chỉnh Quyết định số 11784/QĐ-UBND ngày 24/12/2012 của Ủy ban nhân dân huyện C về thu hồi đất bị ảnh hưởng bởi dự án đối với bà Dương Thị H.

Từ: “Thu hồi 820,7m² đất của bà Dương Thị H cư ngụ tại ấp E, xã B, thuộc thửa đất số 94-1, 95-1, 558-1 và rạch; tờ bản đồ số 24 (theo tài liệu đo đạc năm 2003)”, “thành thu hồi 869,6m² đất của bà H tờ bản đồ số 11 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB) và một phần thửa 558 và rạch, thuộc thửa đất số 94-1, 95-1, 558-1 và rạch, @ đường; tờ bản đồ số 24 (theo tài liệu đo đạc năm 2003). Diện tích có tăng 48,9m² do bổ sung phần diện tích @ đường.”

Sau khi có quyết định thu hồi đất điều chỉnh Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng huyện đã chiết tính lại hồ sơ bà T như sau:

Hộ bà Dương Thị Cẩm T số tiền: 1.200.471.104 đồng, theo Quyết định số 7305.

  • Hỗ trợ đất ở 201,1m² x 4.615.000đ = 928.076.500 đồng.
  • Bồi thường hỗ trợ đất nông nghiệp trong khu dân cư: 5,5m² x 802.500đ = 4.413.750 đồng.
  • Nhà cửa: 245.115.200 đồng.
  • Tài sản khác: 20.865.654 đồng.
  • Hỗ trợ di chuyển nhà: 2.000.000 đồng

Không đồng ý với quyết định bồi thường trên, bà T tiếp tục khiếu nại.

Ngày 27/1/2016 Ủy ban nhân dân huyện C có Thông báo số 31/TB-VP có nội dung như sau:

  • - Công nhận một phần Quyết định số 7305.
  • - Giao Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện chiết tính bổ sung phần lãi suất của số tiền 1.200.471.104 đồng từ ngày 1/1/2015 đến 1/10/2015 theo quy định tại Văn bản số 2163/UBND-ĐTMT ngày 21/4/2015 của UBND thành phố.
  • - Bác các nội dung bà Dương Thị Cẩm T khiếu nại yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C hỗ trợ cho phần vật kiến trúc nhà ở với hệ số 100% đơn giá bồi thường, yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện X bố trí suất tái định cư do phần đất còn lại không đủ điều kiện để xây dựng mới nhà ở.

Sau khi Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 879/QĐ-UBND ngày 02/02/2016 đối với bà Dương Thị Cẩm T thì bà tiếp tục khiếu nại đến Thanh tra thành phố.

Ngày 05/5/2016, Ủy ban nhân dân xã B có Báo cáo số 294/BC-UBND báo cáo về việc thẩm tra, xác minh mốc thời gian xây dựng nhà của bà H và 03 người con như sau:

  • + Nhà bà Dương Thị H có thời điểm xây dựng vào năm 2010.
  • + Nhà ông Phan Duy T3 có thời điểm xây dựng vào năm 2004 (lý do nhà ông T4 xây dựng bị hoán đổi đất).
  • + Nhà của bà Dương Thị Cẩm T xây dựng vào thời điểm năm 2006 (nhà chính xây tường gạch, mái tole, nền gạch men) và phần mái tole liền kề được xây dựng vào năm 2007.
  • + Nhà của bà Lê Cẩm H2 có thời điểm xây dựng khoảng năm 2009 đến năm 2010.

Sau khi Ủy ban nhân dân xã B có Báo cáo số 294/BC-UBND báo cáo về việc thẩm tra, xác minh mốc thời gian xây dựng nhà của bà H và 03 người con, Thanh tra thành phố có ý kiến tại buổi làm việc lần 2 vào ngày 17/5/2014: Ghi nhận ý kiến của Ủy ban nhân dân nhân dân huyện C, Thanh tra thành phố sẽ có văn bản chuyển hồ sơ của bà Lê Cẩm H2, bà Dương Thị Cẩm T, ông Phan Duy T3 để Ủy ban nhân dân huyện C rà soát, giải quyết lại theo quy định, vì Thanh tra thành phố cho rằng:

  • + Theo tài liệu kỹ thuật số đo đạc năm 2003 thì những căn nhà trên không thể hiện nhà ở thời điểm năm 2003 và Báo cáo số 294/BC-UBND báo cáo về việc thẩm tra, xác minh mốc thời gian sử dụng nhà của bà H và 03 người con so với Báo cáo số 45/BC-UBND của UBND xã B về việc thẩm tra, xác minh mốc thời gian xây dựng, cải tạo sửa chữa nhà của bà Dương Thị H và các con bà H và Văn bản của Hội đồng bồi thường dự án xin ý kiến Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố là không thống nhất về thời điểm xây dựng của các căn nhà.

Ngày 24/05/2016 Thanh tra thành phố có Văn bản số 693/TTTP-P3 về việc giải quyết khiếu nại của 03 hộ dân huyện C, theo đó Thanh tra thành phố thông báo đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc chấm dứt thụ lý đơn khiếu nại của hộ bà Lê Cẩm H2, bà Dương Thị Cẩm T, ông Phan Duy T3 tại Thanh tra thành phố và chuyển vụ việc khiếu nại nêu trên để Ủy ban nhân dân huyện C tự kiểm tra, rà soát theo quy định và thẩm quyền.

Ngày 19/8/2016, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6775/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 879/QĐ-UBND ngày 02/02/2016 về giải quyết đơn khiếu nại của bà Dương Thị Cẩm T với lý do: Thời điểm xây dựng nhà của hộ này là sau ngày 22/4/2002 (theo báo cáo số 294/BC-UBND ngày 05/5/2016 của UBND xã B).

Thực hiện theo Thông báo số 1463/TB-VP ngày 25/8/2016 của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân về việc giải quyết một số tồn tại trong việc bồi thường hộ bà Dương Thị H. Tại Quyết định số 6889 đã thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7305 đối với bà Dương Thị Cẩm T và làm lại thành 01 hồ sơ cho bà H.

Đề nghị giữ nguyên Quyết định số 6889 về việc về thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7305.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 17 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Cẩm T về hủy Quyết định số 7305/QĐ-UBND ngày 01/10/2015 của Ủy ban nhân dân huyện C và Quyết định số 6889/QĐ-UBND ngày 24/8/2016 của Ủy ban nhân dân huyện C.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/2/2023, bà Dương Thị Cẩm T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Trong phần tranh luận:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện Luật sư Đặng Đình T1 trình bày: Bà T được bà H là mẹ cho đất và đã cất nhà từ năm 1992, có trong biên bản kiểm kê của Ủy ban huyện C; Qua nhiều lần giải quyết khiếu nại, Lãnh đạo UBND huyện C chỉ đạo đo tách sổ cho 4 hộ trong đó có bà T, nhưng các cơ quan chuyên môn không thực hiện. Bà T khiếu nại yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền bồi thường nhưng không được giải quyết mà ủy ban lại ra Quyết định thu hồi các Quyết định đã ban hành là không đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

Người bảo vệ quyền lợi cho người bị kiện không tranh luận và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày từ cấp sơ thẩm và qua các văn bản đã ban hành của người bị kiện; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành đúng quy định của pháp luật; tại phiên tòa người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng hành chính.

Về nội dung vụ án: Các Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện C ban hành là có căn cứ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nên kháng cáo của bà T là không có cơ sở; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Dương Thị Cẩm T còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Ủy ban nhân dân xã B được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Bà Dương Thị Cẩm T có phần diện tích đất bị thu hồi là 201,1m² thuộc một phần các thửa 86, 87, tờ bản đồ số 11 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB) và một phần thửa 558 và rạch, tờ bản đồ số 24, theo tài liệu bản đồ kỹ thuật số, bộ địa chính xã B.

Căn cứ nội dung Báo cáo số 294/BC-UBND ngày 05/5/2016 của UBND xã B về việc thẩm tra, xác minh mốc thời gian xây dựng nhà của bà H và 03 người con thể hiện: Nhà của bà Dương Thị Cẩm T xây dựng vào thời điểm năm 2006 (nhà chính xây tường gạch, mái tole, nền gạch men) và phần mái tole liền kề được xây dựng vào năm 2007.

Theo tài liệu kỹ thuật số đo đạc năm 2003 thì không thể hiện nhà ở thời điểm năm 2003; Báo cáo số 294/BC-UBND, Báo cáo số 45/BC-UBND của UBND xã B về việc thẩm tra, xác minh mốc thời gian xây dựng, cải tạo sửa chữa nhà của bà Dương Thị H và các con bà H và Văn bản của Hội đồng bồi thường dự án xin ý kiến Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố là không thống nhất về thời điểm xây dựng của các căn nhà.

Tại Quyết định số 6775/QĐ-UBND ngày 19/8/2016 của Ủy ban nhân dân huyện C đã thu hồi Quyết định số 879/QĐ-UBND ngày 02/02/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện huyện C với lý do: Thời điểm xây dựng nhà của hộ này là sau ngày 22/4/2002 (theo báo cáo số 294/BC-UBND ngày 05/5/2016 của UBND xã B).

Như vậy, thời điểm xây dựng nhà của bà T là sau ngày 22/4/2002. Căn cứ điểm c khoản 2 Phần V Phương án số 17/PABT thì trường hợp của bà T không đủ điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ. Tại phiên tòa, phía người khởi kiện cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho thời gian xây dựng, cải tạo sửa chữa nhà là trước ngày 22/4/2002. Mặt khác, trong thời gian sử dụng nhà đất, bà T không thực hiện tách thửa, không tiến hành kê khai sử dụng đất nên phần diện tích bị thu hồi vẫn thuộc quyền sử dụng đất của bà H.

Việc Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6889/QĐ-UBND ngày 24/8/2016 về thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7305/QĐ-UBND ngày 01/10/2015 đối với bà Dương Thị Cẩm T và làm lại thành 01 hồ sơ bồi thường cho bà H là đúng quy định pháp luật.

Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Cẩm T là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho thời gian xây dựng, cải tạo sửa chữa nhà là trước

ngày 22/4/2002. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện về việc hủy Quyết định số 7305/QĐ-UBND ngày 01/10/2015 và Quyết định số 6889/QĐ-UBND ngày 24/8/2016 của Ủy ban nhân dân huyện C; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Dương Thị Cẩm T phải chịu án phí theo quy định.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Bà Dương Thị Cẩm T. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 74/2023/HC-ST ngày 17 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Áp dụng:

  • - Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 157, điểm a khoản 2 Điều 193, của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Cẩm T về hủy Quyết định số 7305/QĐ-UBND ngày 01/10/2015 của Ủy ban nhân dân huyện C và Quyết định số 6889/QĐ-UBND ngày 24/8/2016 của Ủy ban nhân dân huyện C.
  2. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Dương Thị Cẩm T phải nộp 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004282 ngày 07/03/2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Khương Lê Văn An
Nguyễn Thị Thụy Vũ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 677/2023/HC-PT ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư

  • Số bản án: 677/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu hủy Quyết định số 7305 về bồi thường và Quyết định số 6889 về thu hồi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger