|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 675/2023/DS-ST Ngày: 24-10-2023 V/v: tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 666/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 710/2023/QĐXXST- DS ngày 04 tháng 8 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 994/2023/QĐST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 1023/2023/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V
Địa chỉ trụ sở : H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn T, ông Trần Quốc H, bà Nguyễn Thị Bích P; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà A, số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. ( bà P, ông H có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng K – sinh năm 1966
Bà Võ Thị Kim H1 – sinh năm 1966 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 2 L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K: bà Nguyễn Hương G, sinh năm 1995; Địa chỉ: A Cầu X, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V do bà Nguyễn Thị Bích P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần V – Chi nhánh H2 (sau đây gọi tắt là ngân hàng) có ký với ông Nguyễn Hồng K và bà Võ Thị Kim H1 hợp đồng cho vay số LN2011303081649 ký ngày 07/12/2020 với nội dung như sau:
- Số tiền 5.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ đồng);
- Mục đích vay: Hoàn tiền mua BĐS là thửa đất số 33, Tờ bản đồ số 25, Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa;
- Thời hạn vay: 240 tháng;
- -Lãi suất vay: 12.5%/năm, điều chỉnh định kỳ lãi suất 03 tháng/lần theo quy định tại hợp đồng số: LN2011303081649 ký ngày 07/12/2020
Từ ngày 10/09/2022 cho đến nay, ông Nguyễn Hồng K và bà Võ Thị Kim H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.
Tài sản thế chấp để đảm bảo cho hợp đồng cho vay trên là quyền sử dụng đất tại thửa 33, tờ bản đồ 25, địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 524427, Số vào sổ cấp GCN: CH01333 do Ủy Ban nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 30/10/2012, cập nhật chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 19/11/2020.
Trong quá trình sử dụng vốn vay của các hợp đồng cho vay trên, ông Nguyễn Hồng K và bà Võ Thị Kim H1 đã quá hạn thanh toán nợ gốc và lãi vay cho Ngân hàng. Mặc dù, ngân hàng đã tạo điều kiện về thời gian trả nợ nhưng ông Nguyễn Hồng K và bà Võ Thị Kim H1 vẫn không có phương án trả dứt nợ cho ngân hàng.
Xét thấy bên vay không còn khả năng thanh toán nợ, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bị khoản vay sang nợ quá hạn và thông báo chấm dứt việc thực hiện đối với hợp đồng cho vay trên, đồng thời tiến hành khởi kiện đương sự tại Toà án nhân dân có thẩm quyền để phát mãi tài sản thế chấp thu hồi nợ.
Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu:
Buộc ông Nguyễn Hồng K và bà Võ Thị Kim H1 phải trả ngay một lần, toàn bộ số tiền cho ngân hàng tạm tính đến ngày 24/10/2023 là 6.146.876.272 đồng, trong đó nợ gốc: 4.829.433.324 đồng; lãi quá hạn: 1.317.442.948 đồng
Ngoài ra, ông Nguyễn Hồng K và bà Võ Thị Kim H1 còn phải chịu lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận của các Hợp đồng trên từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng
Trường hợp ông Nguyễn Hồng K và bà Võ Thị Kim H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho nguyên đơn số tiền trên thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 33, tờ bản đồ 25, địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 524427, Số vào sổ cấp GCN: CH01333 do Ủy Ban nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 30/10/2012, cập nhật chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 19/11/2020 để thu hồi nợ.
+ Ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng khoản chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Nguyễn Hồng K do bà Nguyễn Hương G là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà đại diện cho ông K không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất về số nợ gốc, nợ lãi theo lời trình bày của ngân hàng. Nay do tình hình kinh tế khó khăn nên bị đơn đề xuất nguyên đơn cho bị đơn về bán tài sản thực hiện nghĩa vụ trả, hạn chót ngày 31/12/2023 sẽ thanh toán số nợ. Ngoài ra đề nghị nguyên đơn hỗ trợ cho bị đơn một phần chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí của vụ án.
- Bị đơn bà Võ Thị Kim H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện ngày 06 tháng 12 năm 2022 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ kết quả xác minh của công an phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 có hộ khẩu thường trú và đang thực tế cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị đơn bà Võ Thị Kim H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay bà H1 vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H1.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
[3.1] Về hình thức và nội dung hợp đồng tín dụng:
Xét, đơn khởi kiện, hợp đồng cho vay số LN2011303081649 ký ngày 07/12/2020 giữa Ngân hàng và ông K, bà H1; lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, lời khai của ông Nguyễn Hồng K, lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông K cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: việc ký kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức hợp đồng và nội dung thỏa thuận phù hợp và không trái quy định pháp luật, có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại các Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng.
[3.2] Về thực hiện hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán:
Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại khoản 8 Điều 2 hợp đồng cho vay ngày 07/12/2020 nên ngân hàng yêu cầu ông K, bà H1 thanh toán số tiền còn thiếu, tính đến ngày 24/10/2023 là 6.146.876.272 đồng (trong đó nợ gốc 4.829.433.324 đồng; lãi quá hạn: 1.317.442.948 đồng) là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 351; Điều 357; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.3]. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi chậm trả phát sinh kể từ ngày 27/9/2023 theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng là phù hợp nên chấp nhận.
[3.4]. Về phương thức và thời hạn thanh toán:
Đại diện bị đơn xin thời gian thanh toán khoản nợ trên là ngày 31/12/2023 và được đại diện nguyên đơn đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán một lần, chậm nhất ngày 31/12//2023 là có lợi cho bị đơn, phù hợp quy định tại Điều 351 Bộ luật Dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 nên có căn cứ chấp nhận.
[3.5] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ:
Khoản vay của ông K, bà H1 tại ngân hàng được thế chấp bằng tài sản đảm bảo, cụ thể: quyền sử dụng đất tại thửa 33, tờ bản đồ 25, địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 524427, số vào sổ cấp GCN: CH01333 do Ủy Ban nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 30/10/2012, cập nhật chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 19/11/2020, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5874, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/12/2020 tại Phòng C tỉnh Khánh Hòa, phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 04/12/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Nay do ông K, bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng yêu cầu trong trường hợp ông K, bà H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ trên thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy: để đảm bảo cho hợp đồng vay trên ông K, bà H1 đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5874, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/12/2020 tại Phòng C tỉnh Khánh Hòa. Tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch tài sản bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Xét, hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung thế chấp được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Cơ quan có thẩm quyền do đó hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tại cơ quan có thẩm quyền xác định được tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bị đơn, đúng với hiện trạng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và không có sự biến động.
Tại Điều 2 của hợp đồng thế chấp quy định “ Tài sản thế chấp nêu tại Điều 1 hợp đồng này bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản bồi thường thiệt hại.... của bên thế chấp phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng được ký kết giữa bên thế chấp và bên ngân hàng trước, trong và sau ngày ký kết hợp đồng thế chấp....”
Như vậy, ông K, bà H1 tự nguyện thỏa thuận với ngân hàng về việc dùng tài sản của mình thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của bị đơn tại ngân hàng, việc ông K, bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán là cơ sở để ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Yêu cầu của nguyên đơn về việc được kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất tại thửa 33, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 524427, số vào sổ cấp GCN: CH01333 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 30/10/2012, Cập nhật chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 19/11/2020, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5874, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/12/2020, phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 04/12/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C để thu hồi toàn bộ khoản nợ khi ông K, bà H1 vi phạm nghĩa vụ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tính đến ngày 24 tháng 10 năm 2023 là 6.146.876.272 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày 25/10/2023 cho đến khi thanh toán xong số nợ. Thời hạn và phương thức thanh toán: thanh toán một lần, chậm nhất ngày 31/12/2023.
[4] Về chi phí tố tụng: Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với chi phí 20.000.000 đồng. Số tiền này đã được nguyên đơn tạm ứng chi phí tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên ông K, bà H1 có trách nhiệm hoàn trả cho ngân hàng số tiền này.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 phải chịu tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP V.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
- Điều 351; Điều 357; Điều 385; Điều 398; Điều 405; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Khoản 2 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
- Ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền còn thiếu của Hợp đồng cho vay LN2011303081649 ngày 07/12/2020, tính đến ngày 24/10/2023 là 6.146.876.272 đồng, trong đó nợ gốc: 4.829.433.324 đồng; lãi quá hạn: 1.317.442.948 đồng
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay LN2011303081649 ngày 07/12/2020 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Thời hạn và phương thức thanh toán: Thanh toán một lần, chậm nhất ngày 31/12/2023.
Trường hợp ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 thanh toán xong các khoản nợ nêu trên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có nghĩa vụ làm thủ tục giải chấp và trả lại cho ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 các giấy tờ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5874, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/12/2020 ký giữa các bên.
Trường hợp đến hạn thanh toán, ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thực hiện phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 33, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 524427, số vào sổ cấp GCN: CH01333 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 30/10/2012, cập nhật chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 19/11/2020 để thanh toán khoản nợ nêu trên.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 đồng
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Hồng K, bà Võ Thị Kim H1 phải nộp số tiền án phí 114.146.876 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí 56.596.378 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036898 ngày 22 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hương Giang |
Bản án số 675/2023/DS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 675/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
