Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 675/2024/DSPT

Ngày: 30/7/2024

Về việc: Tranh chấp hợp

đồng bảo hiểm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo

Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền

2. Bà Vũ Thị Thu Hương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Thương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 505/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”;

Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3569/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10531/2024/QĐH-DS ngày 19/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1995 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1994 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo Giấy ủy quyền ngày 27/11/2020).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Đức T1, ông Huỳnh Trung H, ông Tạ Văn T2, bà Nguyễn Thị L đều là Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H và Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông Phạm Đức T1, ông Huỳnh Trung H (có mặt); ông Tạ Văn T2 và bà Nguyễn Thị L có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH B (Việt Nam);

Địa chỉ: Tòa nhà S C, số F đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Võ Trần K: sinh năm 1987 (Vắng mặt); Ông Huỳnh Công D: sinh năm 1992 (có mặt); (theo Giấy ủy quyền ngày 15/11/2023).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990; (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y có người đại diện theo ủy quyền là ông Phan Văn T trình bày:

Nguyên vào ngày 27/06/2019, bà Nguyễn Thị Y thông qua Đại lý tư vấn Hợp đồng bảo hiểm là bà Nguyễn Thị H1 đã ký với Công ty TNHH B Hợp đồng bảo hiểm số U912976947 An Phúc Trọn Đời Ư – Quyền lợi cơ bản. Tổng phí bảo hiểm định kỳ: 13.568.000 đồng. Định kỳ đóng phí: Năm. Người thụ hưởng chính quyền lợi bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm là ông Trương Đình T3 (chồng của bà Nguyễn Thị Y). Sau đó ông T3 – Chồng của bà Y không may gặp tai nạn qua đời, nhận thấy phát sinh sự kiện bảo hiểm, bà Nguyễn Thị Y đã nộp hồ sơ yêu cầu Công ty TNHH B (Việt Nam) giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Công ty TNHH B (Việt Nam) đã viện cớ “Theo nội dung Biên bản làm việc với B vào ngày 30/12/2019, Quý khách đã xác nhận thông tin: Người được bảo hiểm Trương Đình T3 đã không trực tiếp điền và ký tên trên Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm ngày 27/06/2019 của Hợp đồng bảo hiểm U912976947" để từ chối nghĩa vụ chi trả quyền lợi bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị Y.

Tuy nhiên, Bà Y cho rằng nội dung Biên bản làm việc với Công ty TNHH B vào ngày 30/12/2019 là không đúng sự thật, bởi được lập trong lúc tang gia bối rối, tâm lý bất ổn, nên việc trả lời câu hỏi của phía đại diện Công ty bảo hiểm tại Biên bản làm việc ngày 30/12/2019 không được rõ ràng, dẫn tới sự hiểu nhầm của phía Công ty bảo hiểm. Hơn nữa, căn cứ theo Đơn đề nghị ngày 17/02/2020 của bà Nguyễn Thị H1 – Đ cho biết khách hàng Trương Đình T3 là người được bảo hiểm đã được bà H1 trực tiếp cho ký vào Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm. Đồng thời, bà H1 cam đoan: “Hợp đồng bảo hiểm đã được làm theo đúng chuẩn của Công ty và luật kinh doanh bảo hiểm, có chữ ký của người bên mua bảo hiểm là chị Nguyễn Thị Y và người được bảo hiểm là anh Trương Đình T3". Nhưng phía bị đơn không tìm hiểu rõ ràng đã vội vàng kết luận để từ chối việc chi trả quyền lợi Bảo hiểm cho bà Y, chối bỏ trách nhiệm, nghĩa vụ của Công ty. Như vậy, có cơ sở để khẳng định Hợp đồng U912976947 đã được ký kết vào ngày 27/06/2019 hoàn toàn hợp pháp. Ông Trương Đình T3 chết không để lại di chúc, căn cứ theo Văn bản thỏa thuận chỉ định đại diện thừa kế ngày 21/11/2019

(theo mẫu của Công ty B), những người trong hàng thừa kế thứ nhất của ông T3 gồm có: Trương Đình V (bố), Nguyễn Thị T4 (mẹ), Nguyễn Thị Y (vợ), Trương Thùy C, Trương Thùy L1 (con). Những người này đã thống nhất ký tên tại Văn bản thỏa thuận chỉ định bà Nguyễn Thị Y là người đại diện thừa kế và người thụ hưởng. Đến nay, phía Công ty TNHH B (Việt Nam) vẫn chưa đưa ra được câu trả lời thỏa đáng và không giải quyết việc chi trả quyền lợi bảo hiểm cho bà Nguyễn Thị Y. Công ty TNHH B (Việt Nam) liên tục thoái thác, né tránh trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Y.

Nay bà Y khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH B (Việt Nam) tiếp tục thực hiện Hợp đồng U912976947 đã được ký kết vào ngày 27/06/2019. Theo đó, phải chi trả số tiền: 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng); thanh toán lãi theo mức lãi suất 10%/năm (theo quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự) trên số tiền: 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) từ ngày có đơn đề nghị giải quyết quyền lợi của bà Nguyễn Thị Y (ngày 17/02/2020) cho đến ngày 05/3/2024 là 323.945.205 đồng và đề nghị trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đối với yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng bảo hiểm số U912976947 của bị đơn thì nguyên đơn hoàn toàn không đồng ý, bởi lẽ người được bảo hiểm ông Trương Đình T3 đã ký trực tiếp vào Hợp đồng bảo hiểm, bà Nguyễn Thị Y cũng đã đóng phí bảo hiểm đầu tiên như yêu cầu từ phía bị đơn. Sau đó, bị đơn đã thực hiện việc thẩm định hợp đồng bảo hiểm này và đến ngày 28/6/2019 bị đơn đã phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm nhân thọ cho hợp đồng trên. Nên căn cứ theo các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì Hợp đồng bảo hiểm số U912976947 ngày 27/6/2019 có hiệu lực pháp luật và bị đơn phải thực hiện việc chi trả bảo hiểm theo đúng quy định.

- Bị đơn Công ty TNHH B có ông Võ Trần K và ông Huỳnh Công D là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 27 tháng 06 năm 2019, Công ty TNHH B có nhận được bộ H4 Yêu Cầu Bảo Hiểm do khách hàng Nguyễn Thị Y và Trương Đình T3 lập và ký tên để đề nghị tham gia bảo hiểm tại Bị đơn. Theo đó, Bên mua bảo hiểm của hợp đồng là Nguyễn Thị Y và người được bảo hiểm là Trương Đình T3. Các sản phẩm bảo hiểm bà Y đề nghị tham gia cho người được bảo hiểm Trương Đình T3 là: Sản phẩm chính An Phúc Trọn Đời Ư – Quyền lợi cơ bản (số tiền bảo hiểm là 800.000.000 đồng), các sản phẩm bổ sung Hỗ trợ chi phí nằm viện, Bảo hiểm toàn diện bệnh hiểm nghèo và Bảo hiểm tử vong và thương tật do tai nạn. Phí bảo hiểm nộp kèm theo là 13.568.000 đồng. Người thụ hưởng theo hợp đồng bảo hiểm là bà Nguyễn Thị Y. Căn cứ vào các thông tin được khai báo trên Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm với đầy đủ chữ ký của Bên mua bảo hiểm cũng là Người được bảo hiểm, Bị đơn nhận thấy hồ sơ bảo hiểm đã đáp ứng đầy đủ các quy định pháp luật và các yêu cầu của Bị đơn, do vậy Bị đơn đã chấp thuận bảo hiểm và phát hành hợp đồng bảo hiểm số U912976947, có hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 06 năm 2019. Ngày 21/11/2019, bà Nguyễn Thị Y đã lập Phiếu yêu cầu

gửi đến Bị đơn đề nghị giải quyết quyền lợi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm số U912976947. Theo đó, tại Phiếu yêu cầu này bà Y cho biết ông Trương Đình T3 tử vong ngày 07/10/2019 với thông tin mô tả là “Sáng 3 giờ kém gia đình tôi phát hiện chồng tôi bị cảm. 3 giờ 00 thì gia đình lập tức đưa vào bệnh viện cấp cứu”. Sau khi nhận được yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm của khách hàng, bị đơn đã tiến hành xác minh và thu thập các thông tin theo đúng trình tự thủ tục để làm cơ sở giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo quy quy định của pháp luật. Theo đó, qua quá trình làm việc với bà Nguyễn Thị Y vào ngày 30/12/2019, bà Y cho biết quá trình lập hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, do ông Trương Đình T3 không có ở nhà, nên bà Y là người đã ký thay cho ông T3. Trong khi đó, theo quy định pháp luật thì việc tham gia bảo hiểm cho ông T3 bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của ông T3. Vì các lý do đó, ngày 16/01/2019 bị đơn đã phát hành T5 phúc đáp thông báo đến khách hàng việc không chấp thuận chi trả quyền lợi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm số U912976947, trong đó nêu rõ các căn cứ từ chối, cũng như Bị đơn đồng ý hoàn lại khoản phí bảo hiểm đã đóng cho hợp đồng bảo hiểm U912976947 là 13.568.000 đồng. Với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn khẳng định việc bị đơn từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm số U912976947 là hoàn toàn có cơ sở pháp lý và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Việc nguyên đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng và yêu cầu bị đơn chi trả quyền lợi bảo hiểm là không có căn cứ.

Tại Đơn phản tố đề ngày 24 tháng 11 năm 2023, bị đơn yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu Hợp đồng bảo hiểm số U912976947 ngày 27/6/2019, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, và bị đơn đồng ý hoàn trả toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng là 13.568.000 đồng với lý do như sau:

- Hợp đồng bảo hiểm số U912976947 ngày 27/6/2019 không có sự đồng ý bằng văn bản phù hợp của người được bảo hiểm Trương Đình T3: Bị đơn đã ngay tình khi phát hành Giấy chứng nhận bảo hiểm cho Hợp đồng trên căn cứ trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm có đầy đủ chữ ký, chữ viết xác nhận của bà Nguyễn Thị Y và ông Trương Đình T3. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn nhận thấy Hợp đồng bảo hiểm này không có sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm ông Trương Đình T3 trên Hợp đồng bảo hiểm theo Văn bản giám định chữ ký, chữ viết tại Viện Khoa học hình sự Thành phố Đ, Kết luận giám định ngày 13/7/2022 và Kết luận giám định ngày 27/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, bị đơn có căn cứ cho rằng ông Trương Đình T3 thực tế chưa đồng ý bằng văn bản để giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường hợp chết của ông T3. Vì ông T3 không thể hiện ý chí, không ký xác nhận tham gia hợp đồng bảo hiểm, nên hợp đồng bảo hiểm số U912976947 ngày 27/6/2019 cần bị vô hiệu do không thỏa mãn điều kiện về chủ thể và đối tượng bảo hiểm theo quy định của pháp luật dân sự và kinh doanh bảo hiểm. Do đó, hợp đồng bảo hiểm trên không làm phát sinh nghĩa vụ của các bên. Vì vậy, bị đơn có quyền từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm phát sinh và hoàn lại toàn bộ phí bảo hiểm đã đóng, không lãi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày trong quá trình tố tụng:

Vào thời gian giữa năm 2019 theo nhu cầu tham gia bảo hiểm của vợ chồng bà Nguyễn Thị Y, anh Trương Đình T3, bà là tư vấn viên của Công ty TNHH B (Việt Nam) với trách nhiệm tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm bảo hiểm và quyền lợi của khách hàng khi tham gia bảo hiểm. Trước khi ký hợp đồng bảo hiểm số U912976947 bà đã tư vấn cho vợ chồng bà Y ông T3 theo đúng quy định của Công ty. Ngày 25/6/2019 bà đã đưa bộ hồ sơ bảo hiểm cho vợ chồng bà Y, ông T3 nghiên cứu. Đến ngày 27/6/2019 bà Y điện thoại cho bà đến lấy bộ hồ sơ bảo hiểm. Khi đến nhà thì bà Y đưa cho bà Hợp đồng bảo hiểm trong đó có sẵn chữ ký của vợ chồng bà Y, anh T3. Bà hỏi bà Y đã viết gì vào bộ hồ sơ yêu cầu bảo hiềm thì bà Y nói sáng nay ông T3 đi làm sớm không có nhà nên bà Y đã ký tên Trương Đình T3 vào phần người được bảo hiểm thay ông T3, phần bên mua bảo hiểm bà Y trực tiếp ký tên. Do đó, bà đã hủy bộ hồ sơ hợp đồng bảo hiểm đó đi và đưa cho bà Y một bộ hồ sơ hợp đồng bảo hiểm mới và bảo bà Y và ông T3 trực tiếp ký tên điền lại thông tin. Đối với bộ hồ sơ cũ (hồ sơ bà Y ký tên thay ông T3 vào phần người được bảo hiểm) bà đã hủy (xé bỏ ngay lúc đó) nên không còn liên quan. Sau đó, bà Y đã đóng phí bảo hiểm là 13.568.000 đồng theo Phiếu thu của Công ty B. Nhận thấy bà Y và ông T3 đều đã ký tên đầy đủ trong hồ sơ bảo hiểm, nên bà đã hoàn thiện hồ sơ bảo hiểm và nộp về Công ty. Bà khẳng định đã làm đúng quy tắc trong việc làm hồ sơ yêu cầu bảo hiểm cho khách hàng và theo quy trình của Công ty B. Bà yêu cầu được vắng mặt khi tham gia tố tụng tại Tòa trong vụ án trên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y:

    Buộc Công ty TNHH B (Việt Nam) phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Y số tiền bảo hiểm là 800.000.000 đồng và 323.945.205 đồng tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 05 tháng 3 năm 2024.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH B (Việt Nam) về việc yêu cầu tuyên U912976947 ngày 27 tháng 6 năm 2019 là vô hiệu.

Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Công ty TNHH B (Việt Nam) tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y có người đại diện theo ủy quyền là ông Phan Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là ông Huỳnh Công D vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y có người đại diện theo ủy quyền là ông Phan Văn T và những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là ông Huỳnh Công D yêu cầu Tòa án sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn với lý do sau:

- Tòa án cấp sơ thẩm không khách quan, chưa đánh giá hết các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Hai bản kết luận giám định đều xác định chữ ký, chữ viết trên mẫu giám định với mẫu tài liệu so sánh không phải do cùng một người ký ra. Như vậy, ông Trương Đình T3 không phải là người ký tên vào hợp đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:

- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm.

- Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa có cơ sở xác định lời khai của bà H1 và bà Y không mâu thuẫn nhau. Trên cơ sở hồ sơ bảo hiểm được đại lý chuyển lên, Công ty TNHH B (Việt Nam) đã chấp thuận hồ sơ bảo hiểm của bà Y là phù hợp với luật kinh doanh bảo hiểm. Mặt khác, trước khi chấp thuận hợp đồng, Công ty có bộ phận xét duyệt hồ sơ và hồ sơ đã được các bộ phận của Công ty thẩm duyệt thông qua. Căn cứ trên cơ sở đó, Công ty B đã phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm cho bà Y. Công ty cho rằng hồ sơ bảo hiểm của bà Y đã không thực hiện đúng quy trình, nên bị vô hiệu là không có cơ sở.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam), giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 05 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử và ban hành bản án số 57/2024/DSST. Ngày 05 tháng 3 năm 2024 bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là ông Huỳnh Công D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, thì Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam) trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị H1.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam) cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Căn cứ vào Hợp đồng bảo hiểm số U912976947 An Phúc Trọn Đời Ư - Quyền lợi cơ bản, được ký giữa bà Nguyễn Thị Y với Công ty TNHH B thông qua Đại lý tư vấn Hợp đồng bảo hiểm là bà Nguyễn Thị H1, với số tiền bảo hiểm là 800.000.000 đồng. Phí bảo hiểm định kỳ là 13.568.000 đồng. Người thụ hưởng chính quyền lợi bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm là ông Trương Đình T3. Ngày 07/10/2019, ông Trương Đình T3 không may gặp tai nạn qua đời. Bà Nguyễn Thị Y đã nộp hồ sơ yêu cầu Công ty TNHH B (Việt Nam) giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo quy định pháp luật. Sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm của bà Y, bị đơn đã tiến hành xác minh và thu thập các thông tin theo đúng trình tự, thủ tục để làm cơ sở giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua làm việc với bà Y, phía Công ty được biết hồ sơ yêu cầu bảo hiểm của ông Trương Đình T3 do bà Y ký thay, nhưng không có sự đồng ý của ông T3. Do đó, Công ty đã có thư phúc đáp thông báo về việc không chấp thuận chi trả quyền lợi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm số U912976947, chỉ đồng ý hoàn lại khoản phí bảo hiểm đã đóng cho hợp đồng bảo hiểm U912976947 là 13.568.000 đồng.

[3.2] Căn cứ vào lời trình bày của bà Nguyễn Thị H1 với tư cách là tư vấn viên của bị đơn, thì sau khi biết được việc bà Nguyễn Thị Y ký thay ông Trương Đình T3 vào hợp đồng bảo hiểm, bà đã hủy toàn bộ hồ sơ này và thay bằng bộ hồ sơ bảo hiểm mới cho bà Y và ông T3 ký trực tiếp lại. Sau đó, bà nộp bộ hồ sơ này cho Công ty B để thực hiện các thủ tục tiếp theo.

[3.3] Xét phía bị đơn cho rằng Kết luận giám định số 3276/KL-KTHS ngày 13/7/2022 và Kết luận giám định số 5893/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký đứng tên Trương Đình T3, chữ viết “Trương Đình T3” dưới mục “Người được bảo hiểm” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm đề ngày 27/6/2019) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Trương Đình T3 trên tài liệu mẫu

so sánh ký hiệu M1 (Giấy chứng nhận kết hôn đề ngày 02/01/2014), (Bản cam kết đề ngày 07/10/2017) là không phải do cùng một người ký, viết ra nhưng phía bị đơn lại không yêu cầu giám định xem chữ ký đó có phải của bà Y đã ký thay ông T3 hay không. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cho rằng có phải do người thứ 3 ký thay ông T3 hay không, nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở xem xét.

Ngoài ra, Theo Kết luận giám định ngày 11/6/2020 của Phân viện khoa học Hình sự tại Thành phố Đà Nẵng cũng trả lời cho bị đơn xác định: Chữ ký, chữ viết họ tên Trương Đình T3 dưới mục “Người được bảo hiểm” trên tài liệu giám định ký hiệu A (Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm đề ngày 27/6/2019) với chữ ký, chữ viết ghi họ tên Trương Đình T3 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M (chữ ký chữ viết của bà Y) là không phải do cùng một người ký, viết ra.

Như vậy, có cơ sở xác định bà H1 đã thực hiện đúng quy định của Công ty B là yêu cầu người được bảo hiểm phải ký tên trực tiếp vào hợp đồng bảo hiểm, và hồ sơ bà Y ký thay ông Trương Đình T3 cũng đã được bà H1 hủy bỏ như lời trình bày của bà H1 tại đơn đề nghị ngày 04/4/2020 (BL 196-197) và biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 26/4/2021 (BL 203).

[3.4.] Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn cũng đã thừa nhận Công ty bảo hiểm có bộ phận xét duyệt hồ sơ bảo hiểm trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm nhân thọ theo quy trình nội bộ và quy trình này không phát hành, không công khai ra bên ngoài, là sản phẩm trí tuệ của Công ty bảo hiểm. Mặt khác, tại phần ghi chú quan trọng của Hợp đồng bảo hiểm có quy định: “... Nếu Công ty phát hiện ông/bà không tự mình ký vào hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, Công ty sẽ có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đã ký và giải quyết theo quy định của pháp luật”. Mặt khác, bị đơn xác nhận không gặp trực tiếp đại lý, bà Y hoặc ông T3 để thẩm định xác định chữ ký, chữ viết mà chỉ dựa trên cơ sở các thông tin và giấy tờ do bên mua bảo hiểm cung cấp để thẩm định và ra quyết định chấp thuận hoặc tạm hoãn hoặc từ chối hồ sơ yêu cầu bảo hiểm của khách hàng. Thực tế ngày 28 tháng 6 năm 2019 bị đơn đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm nhân thọ cho bà Nguyễn Thị Y với nội dung: Người mua bảo hiểm: Bà Nguyễn Thị Y; người được bảo hiểm: Bà Nguyễn Thị Y, ông Trương Đình T3; người thụ hưởng: Bà Nguyễn Thị Y. Như vậy, trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm, Công ty B có thẩm quyền xem xét hồ sơ đăng ký mua bảo hiểm, xác minh để chấp nhận hoặc không chấp nhận việc giao kết hợp đồng bảo hiểm với bà Nguyễn Thị Y và ông Trương Đình T3, chứ không phải để đến khi phát sinh quyền lợi bảo hiểm, lúc này Công ty mới tiến hành việc xác minh hợp đồng bảo hiểm có đúng chữ ký bên được bảo hiểm hay không, để từ đó cho rằng ông Trương Đình T3 là người được bảo hiểm chưa đồng ý bằng văn bản để giao kết hợp đồng bảo hiểm con người, không thể hiện ý chí, không ký xác nhận tham gia hợp đồng bảo hiểm, nên hợp đồng bảo hiểm số U912976947 ngày 27/6/2019 bị vô hiệu là không có căn cứ chấp nhận.

[3.5] Xét, án sơ thẩm xác định Hợp đồng bảo hiểm số U912976947 ngày 27 tháng 6 năm 2019 có hình thức và nội dung phù hợp với Luật kinh doanh bảo

hiểm, nên đây là hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH B (Việt Nam) phải chi trả quyền lợi bảo hiểm với số tiền 800.000.000 đồng là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[4] Xét, bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa phản ánh đầy đủ các tình tiết của vụ án trong bản án, giải quyết chưa phù hợp với quy định pháp luật và đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty B, nhưng không xuất trình được thêm chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH B (Việt Nam).

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Các Điều 12, 13, 17, 18, 21, 29, 31, 33 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2010;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y:

    Buộc Công ty TNHH B (Việt Nam) phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Y số tiền bảo hiểm là 800.000.000 đồng và 323.945.205 đồng tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 05 tháng 3 năm 2024.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH B (Việt Nam) về việc yêu cầu tuyên U912976947 ngày 27 tháng 6 năm 2019 là vô hiệu.
  2. Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Công ty TNHH B (Việt Nam) tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Công ty TNHH B (Việt Nam) phải chịu là 46.018.356 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số AA/2023/0044962 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Công ty TNHH B (Việt Nam) còn phải nộp 45.718.356 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Nguyễn Thị Y không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H2 lại cho bà Y số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.676.666 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0029772 ngày 09 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Công ty TNHH B (Việt Nam) phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Công ty TNHH B (Việt Nam) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0038084 ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - TAND Quận A;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Phạm Thị T6

CÁC THẨM PHÁN




Nguyễn Thị H - Vũ Thị Thu H3

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị T6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 675/2024/DSPT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

  • Số bản án: 675/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger