|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 675/2025/HS-PT
Ngày 06-11-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huyền Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 539/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Võ Bảy N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo: Võ Bảy N, sinh năm 1969 tại tỉnh Đồng Nai; nơi thường trú: tổ G, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H (đã chết) và bà Huỳnh Thị S (chết tháng 9/2024); vợ Lê Thị T, sinh năm 1970; có 02 người con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2025 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại do không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Bảy N và ông Nguyễn Văn N1 (tên thường gọi: Tư Nghĩa) có mối quan hệ làm ăn trong việc mua bán cây gỗ.
Do đang khó khăn về kinh tế nên bị cáo N nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông N1 để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định, ngày 14/01/2020, bị cáo N đến nhà ông N1 tại khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường B, tỉnh Đồng Nai) và nói với ông N1 là mẹ của bị cáo N đang bị bệnh nặng cần tiền gấp và muốn sang nhượng lại 19 cây xà cừ với số tiền 12.000.000 đồng, nghe vậy ông N1 đồng ý rồi cùng với một số người bạn làm ăn chung đi với bị cáo N xem vườn cây xà cừ ở gần Trạm thu phí thuộc khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), đây không phải là vườn cây này của bị cáo N nhưng vì đang cần tiền nên bị cáo đã nói dối đây là vườn cây của bị cáo mua lại, để cho ông N1 tin tưởng bị cáo N tự viết 01 giấy mua bán với nội dung mua bán cây xà cừ với người có tên là Nguyễn Văn T1 (nhà ở B, huyện T, tỉnh Bình Dương). Ông N1 tin tưởng, đồng ý mua và ứng trước 5.000.000 đồng đưa cho bị cáo N, còn lại 7.000.000 đồng ông N1 hẹn ngày 02/02/2020 (mùng 9 Tết) đến cưa cây sẽ trả đủ.
Đến ngày 16/01/2020, bị cáo N tiếp tục đến nhà của ông N1 nói là không đủ tiền chữa bệnh cho mẹ, muốn sang nhượng lại một số xà cừ và tràm với giá 25.000.000 đồng, nghe vậy ông N1 đồng ý rồi cùng với một số người bạn làm ăn chung đi với bị cáo N xem vườn cây tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại đây có 5 cây xà cừ và khoảng 4-5 sào cây tràm khoảng 5 năm tuổi, bị cáo N tiếp tục nói dối với ông N1 đây là vườn của bị cáo N mua lại nên ông N1 tin tưởng và đồng ý mua, ông N1 tiếp tục ứng trước cho bị cáo N số tiền 5.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng ông N1 hẹn ngày 05/02/2020 (12 Tết) đến cưa cây sẽ trả đủ.
Đến ngày 19/01/2020, bị cáo N tiếp tục đến nhà của ông N1 nói không đủ tiền chữa bệnh cho mẹ và nói với ông N1 là có người muốn bán vườn cao su, xà cừ, nghe vậy ông N1 cùng với một số người bạn làm ăn chung đi với bị cáo xem vườn cây gần khu vực vườn xà cừ, tràm lần thứ hai tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Hai bên thỏa thuận mua vườn cây với giá 66.000.000 đồng, ông N1 ứng trước cho bị cáo số tiền 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó thì ông N1 có trao đổi lại do vườn cao su, xà cừ này bán không có lời nên không mua nữa, số tiền 10.000.000 đồng đã đưa cho bị cáo N sẽ trừ vào tiền mua cây lần thứ nhất và lần thứ hai.
Đến ngày 02/02/2020, ông N1 cho người đến các vườn cây đã thỏa thuận mua bán với bị cáo N để cưa cây thì phát hiện những vườn cây này không phải là tài sản của bị cáo N, liên lạc với bị cáo N không được nên ông N1 đến Công an phường T trình báo. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường T xác lập hồ sơ ban đầu chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, giải quyết theo thẩm quyền.
Về dân sự: Bị cáo Võ Bảy N đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn N1. Ông N1 không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Võ Bảy N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Bảy N 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Võ Bảy N có đơn kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: bị cáo Võ Bảy N đã lợi dụng sự tin tưởng của ông Nguyễn Văn N1 trong việc mua bán cây gỗ nên từ ngày 14/01/2020 đến ngày 19/01/2020, bị cáo N nhiều lần đưa ra thông tin gian dối là có các vườn cây xà cừ, tràm do bị cáo N mua lại của người khác cần bán cho ông N1 nhằm chiếm đoạt tiền cọc của ông N1, tổng số tiền bị cáo N đã chiếm đoạt của ông N1 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Hành vi của bị cáo Võ Bảy N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bên cạnh đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt 09 (chín) tháng tù đối với bị cáo N là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Bảy N; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình mong Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 14/01/2020 đến ngày 19/01/2020, tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) bị cáo Võ Bảy N đã nhiều lần lợi dụng sự tin tưởng của ông Nguyễn Văn N1 trong việc mua bán cây gỗ để đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tiền cọc của ông N1, tổng số tiền bị cáo N đã chiếm đoạt của ông N1 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đông).
Hành vi của bị cáo Võ Bảy N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây tâm lý nghi ngờ, mất lòng tin lẫn nhau trong nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vì tham lam, tư lợi nên bị cáo đã nhiều lần cố ý thực hiện và mong muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng như bị cáo phạm tội nhiều lần và các giảm nhẹ như trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N 09 (chín) tháng tù là không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không thuộc trường hợp không được cho hưởng án treo. Do đó, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo.
[4] Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là chưa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Võ Bảy N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Bảy N; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2025/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Võ Bảy N như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Bảy N 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 06 tháng 11 năm 2025) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Giao bị cáo Võ Bảy N cho Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Võ Bảy N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm giải thích về án treo cho bị cáo.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Bảy N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Huỳnh |
Bản án số 675/2025/HS-PT ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 675/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 06 tháng
