Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 675/2025/DS-PT

Ngày 17-6-2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán:Ông Phạm Văn Công
Ông Vương Minh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 393/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1734/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1977. Địa chỉ: số I, đường M, Phường I, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Nhật T: Bà Trương Thị Thu T1, sinh năm 1978. Địa chỉ: số H Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lư Văn K, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số F, Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lư Văn K: Bà Cao Thị Túy G, là Luật sư của Văn phòng L và công sự - Thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lư Quốc K1, sinh năm 1990; (vắng mặt).
  2. Anh Lư Quốc T2, sinh năm 1990; (vắng mặt).
  3. Anh Lư Quốc C, sinh năm 2002; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số F, Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo uỷ quyền của anh Lư Quốc K1, anh Lư Quốc T2, anh Lư Quốc C: Ông Lư Văn K sinh năm 1960. Địa chỉ: Số F, Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; (có mặt).

  1. Bà Triệu Hồng T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số F, khóm H, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; (vắng mặt).
  2. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Số A, đường T, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh H, chức vụ: Chủ tịch; (xin vắng mặt).

- Người kháng cáo: ông Nguyễn Nhật T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật T, bản tự khai, các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đặng Văn N trình bày:

Vào năm 2003 ông Nguyễn Nhật T có nhận chuyển nhượng đất của ông Lư Văn K gồm: khi chuyển nhượng ông T và gia đình cùng nhận chuyển nhượng chung phần đất có diện tích tổng cộng ngang 50m, dài 36m. Trong đó phần đất của ông T nhận chuyển nhượng diện tích ngang 20m, dài 36m; thỏa thuận chiều dài sau khi trừ lộ giới.

Sau khi chuyển nhượng xong, ông T đã kê khai đăng ký được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X046627, vào số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00622 QSDĐ/2773/2003 QĐ UBTX với diện tích ngang 20m, dài 36m tổng số 720m², thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại Phường E, thị xã B (nay là Thành phố B), tỉnh Bạc Liêu. Do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp ngày 11/08/2003.

Khi chuyển nhượng đất hoàn tất, ông T có chuyển nhượng cho ông Lưu Thành Y phần đất ngang 5m, dài 36m, tổng diện tích 180m² theo hợp đồng chứng nhận quyền sử dụng đất số 2706/CN-UBNDTXBL kỷ ngày 24/10/2003 chuyển quyền 180m² cho hộ ông Lưu Thành Y. Diện tích ông T còn lại sử dụng là 540m².

Diện tích đất của ông T nhận chuyển nhượng của ông K thì ông T cho ông Kim M nuôi tôm một thời gian, sau đó cho thuê. Đến năm 2017, ông T bồi đắp diện tích đã chuyển nhượng để sử dụng nên ông Kim G1 trả đất theo diện tích đã thỏa thuận chuyển nhượng. Phần ông Kim G1 trả cho gia đình ông T là ngang 30m, dài 36m; còn diện tích của ông T là ngang 15m, dài 36m.

Khi bồi đắp xong, ông T về Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống một thời gian sau đó quay lại thì phát hiện ông K lấn phía sau giáp đất của ông K, tính theo thửa đất dài (lấn sâu thửa đất) 6m, ngang 15m.

Khi thỏa thuận chuyển nhượng hai bên biết được Nhà nước làm cầu B đi qua đất của ông K nên ông T và ông K thỏa thuận là diện tích lấy từ cột mốc lộ giới để làm điểm chuyển quyền sử dụng đất, còn ông Lư Văn K lấy tiền bồi thường phần đất mặt tiền bị giải tỏa.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/8/2022, ông T yêu cầu ông Lư Văn K phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm 6m x 15m. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật T là ông Lư Văn K rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất diện 29m², chỉ yêu cầu ông Lư Văn K trả phần đất qua đo đạc thực tế diện tích 87m², thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 04 (bản đồ năm 1994), tọa lạc tại Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

* Theo bản tự khai và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án của bị đơn ông Lư Văn K trình bày:

Trước đây vợ chồng ông Lư Văn K, bà Triệu Hồng T3 có diện tích đất gồm: Thửa số 54 diện tích 3.460m²; thửa số 55 diện tích 3930m² và thửa số 73 diện tích 9395m², tại Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 555820 do Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) cấp cho hộ ông Lư Văn K vào ngày 11/7/2003.

Vào khoảng năm 2002 - 2003, gia đình ông K, bà T3 có chuyển nhượng ông Nguyễn Nhật T diện tích đất ngang 20m x dài 36m tính từ mép lộ đi vào, do hiện trạng lúc đó chưa làm lộ (chỉ mới ủi đất lên chuẩn bị làm lộ) nên nói mép lộ nhưng là tính từ bờ đất được đắp lên để làm lộ. Khi thỏa thuận, thì có làm giấy mua bán và nhận tiền do ông T giữ, giá trị chuyển nhượng bao nhiêu thì ông K không nhớ, tuy nhiên đã giao đất và nhận tiền với nhau đầy đủ.

Sau đó khoảng 01 tháng thì gia đình ông K, bà T3 tiếp tục chuyển nhượng cho ông T diện tích đất ngang 30m x dài 36m tính từ mép lộ đi vào, do hiện trạng lúc đó chưa làm lộ (chỉ mới ủi đất lên chuẩn bị làm lộ) nên nói mép lộ nhưng là tính từ bờ đất được đắp lên để làm lộ. Khi thỏa thuận, thì có làm giấy mua bán và nhận tiền do ông T giữ, giá trị chuyển nhượng bao nhiêu thì ông K không nhớ, tuy nhiên đã giao đất và nhận tiền với nhau đầy đủ.

Toàn bộ thỏa thuận này, ông K đều thỏa thuận với ông T nhưng sau đó thủ tục về ông T giao cho ai đứng tên thì ông K không biết.

Đồng thời lúc đó, gia đình ông K và ông T có thỏa thuận là giao cho T làm thủ tục chuyển tên nên ông K đã giao bản chính sổ đỏ cho ông T và ông T đã làm thủ tục chuyển tên.

Đến năm 2017 - 2018, gia đình ông T do bà H1 là mẹ của ông T có đứng ra đại diện ông T, thuê đo đạc và nhờ địa phương chứng kiến, có cậm ranh phần đất và hiện nay vẫn còn trên thực tế, lúc này giữa ông K và bà H1 đã thống nhất diện tích chuyển nhượng với nhau nên đã cậm ranh. Sau khi tách sổ thì ông T đã trả lại sổ gốc cho gia đình ông K.

Sau khi chuyển nhượng, do ông T chưa có nhu cầu sử dụng nên ông T cho vợ chồng ông K, bà T3 mượn để canh tác được một thời gian. Sau đó thì vợ chồng ông K, bà T3 thuê lại sử dụng từ bà H1 (mẹ ông T). Đến khoảng năm 2015, vợ chồng ông K, bà T3 đã trả lại đất cho bà H1 và đến năm 2017 - 2018 thì bà H1 và ông K đã cậm ranh như trên. Sau khi cậm ranh đến nay thì gia đình ông K không hề quản lý sử dụng đến diện tích chuyển nhượng này vì đã thuộc quyền sử dụng của gia đình T.

Đầu tiên khi thỏa thuận thực tế ông T chỉ muốn nhận chuyển nhượng chiều sâu vào 30m nhưng lúc đó do đất đang trong giải tỏa và ông T biết sẽ bị thu hồi khoảng 06m vào nên mới thỏa thuận là 36m. Lúc này, ông T nói về thủ tục thì để Nhà nước thu hồi rồi thì mới làm thủ tục vì để cho gia đình ông K nhận tiền bồi thường, lúc này ông K còn nói giá Nhà nước bồi thường sẽ thấp hơn giá chuyển nhượng nhưng ông T nói chỗ quen biết nên ông K đồng ý nên sự việc cụ thể là trên giấy tay thỏa thuận là chuyển nhượng chiều sâu vào 36m khi chưa làm lộ và thu hồi đất, sau đó tôi nhận bồi thường 6m từ Nhà nước và ông T chỉ thanh toán cho ông K giá trị chuyển nhượng theo diện tích chiều sâu vào 30m. Lúc chuyển nhượng thì ông K với ông T có đo đạc và cậm ranh với nhau, cách đo là lấy điểm giáp ranh ông Lý Trường S từ mé lộ đo vào 36 m bao gồm 06 mét lộ giới. Đến năm 2017, bà H1 đi cậm ranh lại thì vẫn phù hợp với ranh mà ông K và ông T cậm trước đây. Vì vậy, ông K không hề có lấn chiếm đất của ông T nên ông K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Triệu Hồng T3 trình bày:

Bà T3 là vợ ông Lư Văn K. Do toàn bộ giao dịch giữa ông T và ông K đều do ông K đứng ra thỏa thuận nên bà T3 không rõ. Bà T3 thống nhất với toàn bộ ý kiến của ông K và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:

“1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T đối với ông Lư Văn K về việc đòi quyền sử dụng đất thửa đất số 135, tờ bản đồ số 4, diện tích 87m² do ông Nguyễn Nhật T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có định vị và số đo như sau:

  • + Hướng Đông giáp đất ông Lư Văn K có số đo 15m;
  • + Hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Nhật T có số đo 15m;
  • + Hướng Nam đất ông Huỳnh Tấn M1, có số đo 5,86m;
  • + Hướng Bắc đất ông Lưu Thành Y, có số đo 5,86m

Diện tích: 87m², (tại phần số 2 theo mãnh trích đo bổ sung ngày 04/9/2024) do ông Nguyễn Nhật T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T đối với diện tích 29m².

3. Chấp nhận yêu cầu ông Lư Văn K về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 046627 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp cho ông Nguyễn Nhật T ngày 11/8/2003 đối với phần đất diện tích 87m² thuộc một phần thửa 135, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (tại phần số 2 theo mãnh trích đo bổ sung ngày 04/9/2024)”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 14/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T là nguyên đơn, kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc ông Lư Văn Kim G1 trả cho ông T diện tích bị lấn chiếm 5,86m x 15m = 87,90m², không hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Nhật T là nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Quyết định thu hồi đất số 06/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố B thu hồi đất của ông Lư Văn K tại thửa số 63, còn phần đất ông T nhận chuyển nhượng là thửa số 73, Công văn số 254 của Ban bồi thường trả lời công văn số 430 của Tòa án có nội dung không thu hồi đất thửa 73 đã bán cho ông T, Quyết định số 06 thu hồi 194m² của ông K là đất thổ cư còn đất của ông T là đất lúa, Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho ông T đã trừ lộ giới nếu như không trừ thì khi thu hồi phải bồi thường cho ông T mới đúng. Dự án cầu B và đường có từ trước khi cấp giấy chứng nhận cho ông T và ông K, cả 2 bên đều biết phạm vi thu hồi, phần lộ giới thu hồi, trong các giấy tay mua bán nhận tiền có ghi rõ. Đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T.

Bị đơn ông Lư Văn K trình bày: Năm 2003 ông T trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng đất ban đầu là 20m chiều ngang, vô sâu 30m, lúc đó thỏa thuận thêm 6m, sau này nếu bồi thường thêm thì tôi nhận tiền đền bù vì ông T cho rằng giá bồi thường đền bù thấp hơn giá mua bán, tôi có ký trên 3 tờ giấy tay nhưng không nhớ. Giấy tờ đất do ông T đi làm, tách sổ xong giao lại, việc đứng tên trên từng phần của gia đình ông T tôi không biết. Phần đất lộ giới là trong phần mua bán, phía sau tranh chấp là của tôi không có lấn chiếm nên không đồng ý yêu cầu của ông T. Đề nghị giữ y án sơ thẩm.

Luật sư Cao Thị Túy G bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Việc thỏa thuận chuyển nhượng giữa ông K với ông T chiều dài thửa đất là 36m nhưng có thỏa thuận tính cả phần tiếp giáp lộ 06m (phần lộ giới) phía ông K nhận tiền bồi thường, còn quyền sử dụng là của ông T. Quá trình giao nhận đất không có phần phía sau đang tranh chấp, hồ sơ cấp giấy toàn bộ do phía ông T thực hiện ngày 11/8/2003, lúc này cấp chưa có con lộ hiện hữu, phần chuyển nhượng tứ cận đều giáp thửa 73 của ông K, lúc này cũng chưa giải phóng mặt bằng. Quá trình thu hồi phù hợp với phần 6m phía trước đất ông T, ông K nhận tiền đền bù, công văn số 900 (BL169) xác định giấy chứng nhận cấp cho ông T không có phần lộ giới, cấp theo lộ cũ phù hợp ý kiến trình bày của ông Kim P chuyển nhượng có phần lộ giới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ y án sơ thẩm.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nội dung: xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lư Văn K với ông Nguyễn Nhật T có diện tích 720m² thuộc thửa 135 tờ 04, theo hình dạng chiều ngang 20m, chiều dài 36m. Xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận thể hiện phần đất này không có tiếp giáp lộ giới 6m, theo bị đơn trình bày phần chuyển nhượng có cả lộ giới là phù hợp, phía ông T cho rằng chuyển nhượng đã trừ lộ giới 6m là không có cơ sở vì không phù hợp hồ sơ cấp giấy. Ông T kháng cáo nhưng không có chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự vắng mặt và xin vắng mặt đã được tống đạt hợp lệ nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T là nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Các đương sự thống nhất giữa ông Lư Văn K với ông Nguyễn Nhật T có thỏa thuận chuyển nhượng một phần đất diện tích đất chung cho gia đình là ngang 50m x dài 36m, trong đó ông T nhận chuyển nhượng chiều ngang 20m x dài 36m tiếp giáp lộ cầu B đi vào, các bên có lập theo giấy tay Biên nhận tiền bán đất ngày 08/3/2003 và ngày 24/3/2003 phần đất ngang 30m x dài 36m; đến ngày 15/8/2003 lập Biên nhận tiền bán đất đối với phần 50m x dài 36m có cả phần 30m trên, các bên đã nhận đủ tiền và giao nhận đất.

[2.2] Căn cứ hồ sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Nhật T thể hiện ông K chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T 720m² thuộc một phần thửa 73 tờ bản đồ số 04 kèm trích lục bản đồ địa chính ngang 20m x dài 36m vào ngày 04/8/2003 (Bút lục 150); Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/7/2003 được chứng thực của Ủy ban nhân dân Phường E và ngày 11/8/2003 ông Nguyễn Nhật T được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/8/2003 tại thửa 135, tờ bản đồ 04 diện tích 720m². Phần đất và vị trí tranh chấp các bên thống nhất xác định diện tích: 87m² thuộc một phần của thửa 135, tờ bản đồ số 04 (tại phần số 2 theo mãnh trích đo bổ sung ngày 04/9/2024) do ông Nguyễn Nhật T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.3] Xét lời trình bày của ông T cho rằng phần đất tranh chấp do ông K bị đơn lấn chiếm do căn cứ chiều dài phần đất chuyển nhượng là 36m tính từ mốc lộ giới, phù hợp với nội dung thỏa thuận chuyển nhượng và nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận đúng vị trí, diện tích; phần đất có vị trí số 1 theo Bản vẽ mặt bằng hiện trạng sử dụng đất năm 2024 (BL328) thuộc lộ giới là quyền sử dụng đất của ông Lư Văn K, ông K đã nhận khoản bồi thường khi thu hồi đất làm đường. Căn cứ Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp cho ông Nguyễn Nhật T thể hiện: Hợp đồng chuyển nhượng ngày 31/7/2003 có chữ ký của ông Lư Văn K và Trích lục bản đồ địa chính ngày 31/7/2003 thể hiện rõ phần tứ cận tiếp giáp phù hợp vị trí hiện trạng có cả phần tranh chấp. Căn cứ lời khai của các bên đều xác định khi chuyển nhượng đất thì chưa có đường T hiện hữu, nhưng đều đã biết có quy hoạch phần đất sẽ giải phóng mặt bằng vì theo Hồ sơ kỹ thuật thửa đất thì phần đất ngày 03/9/2004 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường tỉnh B có bản vẽ hồ sơ kỹ thuật thửa đất khi thu hồi đất của ông K có ranh giới giải phóng mặt bằng được cán bộ đo đạc từ ngày 20/01/2003. Đồng thời, căn cứ Biên nhận tiền bán đất ngày 08/3/2003 có chữ ký của ông Lư Văn K có nội dung “Nguyên tôi có một miếng đất vuông tôm nay nhà nước làm cầu B, con đường đi qua đất tôi, nay tôi đồng ý nhượng lại cho anh Nguyễn Nhật T 30m mặt tiền lộ mới sâu 36m nằm về phía sông. Giáp đất Lý Trường S đo qua, không đo phần bánh ú bên Lý Trường S. Đất là mặt tiền đường C, phần trước mặt tiền trong lộ giao đứt cho anh T bên bán chỉ nhận tiền đền bù của nhà nước” (BL 125), tại Giấy sang nhượng đất ngày 16/7/2003 (BL 124) có chữ ký của ông Lư Văn K bán đất cho bà nguyễn Thị Diễm T4 có nội dung “Đất là mặt tiền đường C. Phần trước đất bán (nằm trong lộ giới) giao đứt cho bên mua, bên bán chỉ nhận tiền đền bù của nhà nước- nếu có- không còn quyền sỡ hữu”. Tại phiên tòa phúc thẩm ông K cũng thừa nhận có ký 03 tờ giấy tay bán đất, nhận tiền nhưng không nhớ cụ thể và cũng không phản đối các giấy tờ trên.

[2.3] Như vậy, tại thời điểm chuyển nhượng bên bán – ông Lư Văn K biết rõ mốc lộ giới, đã đồng ý giao toàn quyền sở hữu “phần trước đất bán”- “nằm trong lộ giới” cho bên mua nên bị đơn cho rằng vị trí đất chuyển nhượng chưa trừ lộ giới là không có cơ sở, việc chuyển nhượng đã được ông T lập thủ tục, quá trình cấp giấy bị đơn biết nhưng không phản đối, khiếu nại và chính bị đơn năm 2006 đã nhận tiền đền bù phần đất thuộc lộ giới (vị trí số 1 theo Bản vẽ) phù hợp với Giấy tay bán đất, giấy nhận tiền đã nêu. Do đó, ông Nguyễn Nhật T khởi kiện yêu cầu ông Lư Văn K trả lại phần đất tranh chấp thuộc phần đất đã chuyển nhượng được cấp giấy chứng nhận là có cơ sở. Cấp sơ thẩm cho rằng ông Nguyễn Nhật T được cấp quyền sử dụng đất trước khi Nhà nước có chủ trương thực hiện làm cầu B (nay là cầu T), năm 2003 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T không thể hiện lộ giới quy hoạch đường N, các giấy tay nhận tiền thể hiện phần đất chuyển nhượng chỉ giáp đường từ đó bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đánh giá toàn diện chứng cứ, kháng cáo của nguyên đơn có cơ sở được chấp nhận.

[3] Từ các phân tích và nhận định nêu trên, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là chưa phù hợp các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Lư Văn K và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang quản lý sử dụng đất có trách nhiệm giao trả cho ông Nguyễn Nhật T.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị y án sơ thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Nhật T không phải chịu, tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T đã nộp được hoàn trả.

Về án phí dân sự sơ thẩm do sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên căn cứ Điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định lại nghĩa vụ chịu án phí, bị đơn ông Lư Văn K phải nộp nhưng do ông K là người cao tuổi nên được miễn.

[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tổng cộng: 3.867.838 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự buộc ông Lư Văn K phải chịu nên phải có trách nhiện hoàn trả lại cho ông Nguyễn Nhật T.

[7] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng, án phí, không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 2 Điều 308, Điều 147, 148, 157, 158, 165, 166, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Nhật T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 109/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, cụ thể tuyên như sau:

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 221 Bộ Luật dân sự năm 2015; Điều 95, 106 Luật Đất đai năm 2013.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T đối với ông Lư Văn K về việc đòi quyền sử dụng đất.

Buộc ông Lư Văn K có nghĩa vụ giao trả phần đất có diện tích 87m² thuộc một phần thửa đất số 135, tờ bản đồ số 4, do ông Nguyễn Nhật T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có định vị và số đo như sau:

  • + Hướng Đông giáp đất ông Lư Văn K có số đo 15m;
  • + Hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Nhật T có số đo 15m;
  • + Hướng Nam đất ông Huỳnh Tấn M1, có số đo 5,86m;
  • + Hướng Bắc đất ông Lưu Thành Y, có số đo 5,86m.

(Tại phần số 2 theo mãnh trích đo bổ sung ngày 04/9/2024 kèm theo)

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T đối với diện tích 29m².
  2. Về chi phí tố tụng:

Buộc ông Lư Văn K có nghĩa vụ hoàn trả chi phí tố tụng cho ông Nguyễn Nhật T số tiền 3.867.838 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi bảy ngàn tám trăm ba mươi tám đồng).

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Lư Văn K được miễn nộp.

2/. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Nhật T không phải nộp, số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000474 ngày 14/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được hoàn trả.

3/. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng, án phí, không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HSVA, VTLT (20b-TVN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 675/2025/DS-PT ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 675/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật T kiện Lư Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger