Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 673/2024/DS-PT
Ngày 23 - 8 – 2024
V/v “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên

Các Thẩm phán: Ông Vũ Ngọc Huynh

Ông Phan Tô Ngọc

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng- Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 434/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1015/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Kim D, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ F, đường T, khóm E, thị trấn tri T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: ông Lưu Văn H, sinh năm 1957; nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
  3. Chỗ ở: Tổ 02, ấp Tân Trung, xã Tà Đảnh, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (có mặt).

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Lâm Thanh T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Tổ F, đường T, khóm E, thị trấn tri T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt) .
    2. Bà Dương Thị S, sinh năm 1962; nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
    3. Chỗ ở: Tổ 02, ấp Tân Trung, xã Tà Đảnh, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

      Người đại diện hợp pháp: ông Lưu Văn H, sinh năm 1957; nơi cư trú: Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

    4. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
    5. Địa chỉ: số A, T, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2022 của nguyên đơn và lời khai của bà Trần Kim D tại phiên tòa như sau:

Bà và chồng Lâm Thanh T có quyền sử dụng đất ở đô thị, diện tích 72m² (ngang 06m, dài 12m) tọa lạc tại tổ F, đường T, khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.

Nguồn gốc đất do vợ chồng bà và ông Lâm Thái H1 (chết) nhận chuyển nhượng ngày 06/3/1998 (giấy tay do anh H1 đứng tên) từ bà Nguyễn Thị N (chết). Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng bà cất nhà ở từ năm 1998 nhưng chưa đăng ký quyền sử dụng đất và đi làm ăn xa nhà.

Quá trình sử dụng ông H1 và bà Phạm Thị T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 43,1m².

Ông Lê Văn H2 nhận chuyển nhượng đất với bà Huỳnh Thị Xuân T2 và lợi dụng vợ chồng bà vắng nhà, ông H2 sửa giấy tờ mua bán đất, từ số 14 chiều ngang thành số 19 và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H2 xây hàng rào, lấn chiếm đất vợ chồng bà chiều ngang 02m, chiều dài 12m, diện tích 24m²

Nay yêu cầu ông Lưu Văn H và bà Dương Thị S trả lại diện tích đất 24m² (gồm diện tích đất trống là 7,2m2 tại các điểm 1, 2, 41 và 40; diện tích đất xây nhà kiên cố là 16,8m² tại các điểm 40, 41, 3 và 42 buộc tháo dỡ).

Công nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Trần Kim D, ông Lâm Thanh T tổng diện tích 72m² trong đó có diện tích đang tranh chấp là 24m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký đất đai Chi nhánh Tri Tôn duyệt ngày 22/8/2023, tọa lạc đường T, khóm E, thị trấn T, huyện T, tính A.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH05518, ngày 09/5/2015, thửa đất số 79, tờ bản đồ số 13, diện tích 277m², do ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lưu Văn H và bà Dương Thị S.

Rút lại yêu cầu công nhận diện tích 72m² theo đơn khởi kiện và Thông báo thụ lý của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Bị đơn, ông Lưu Văn H trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông không đồng ý. Vì ông không lấn chiếm đất và đã được ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

UBND huyện T vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Ông Lâm Thanh T thống nhất ý kiến trình bày của bà Trần Kim D.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DSST ngày 23-02-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:

Căn cứ Điều 26, 34, 37, 162, 165, 217, 227, 228, 235, 244 và Điều 273 Bộ luật Tổ tụng Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 166 và Điều 203 Luật Đất đai 2013;

Căn cứ Nghị quyết số 326 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Kim D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lâm Thanh T đối với:
    • Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH05518 do UBND huyện T cấp ngày 09/5/2015, cho ông Lưu Văn H và bà Dương Thị S;
    • Buộc ông Lưu Văn H và bà Dương Thị S trả lại cho bà Trần Kim D, ông Lâm Thanh T diện tích đất 24m² tại các điểm 1, 2, 41, 3, 42, 40;
    • Công nhận cho bà Trần Kim D, ông Lâm Thanh T được sử dụng toàn bộ diện tích 24m² tại các điểm 1, 2, 41, 3, 42, 40.

    Các diện tích đất trên, theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 22/8/2023 của Văn phòng Đ Chi nhánh T5 và tọa lạc tại thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Kim D đối với yêu câu được công nhận diện tích đât là 72m² .

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07-03-2024, nguyên đơn bà Trần Kim D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Trần Kim D vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo, hai bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự số 19/2024/DS-ST ngày 23/02/2024 về việc “Đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,” của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, tòa diện chứng cứ ý kiến của Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hình thức đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Ngày 07/3/2024 nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

  1. Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ Điều 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng thẩm quyền.
  2. Về tư cách người tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
  3. Về quan hệ tranh chấp: cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp.
  4. Nội dung:
  5. Nguyên đơn trình bày: nguồn gốc đất tranh chấp, do ông Lâm Thái H1 nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị N, diện tích 94,5m², giá 03 chỉ vàng 24kara (tờ bán đất thổ cư ngày 06/3/1998). Sau khi ông H1 chết, giữa vợ chồng bà và bà Phạm Thị T1 (vợ ông H1) thỏa thuận mỗi người được sử dụng ½ diện tích. Phần bà T1 đã kê khai đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05483, ngày 11/02/2015, diện tích 43,1m², thửa đất số 77, tờ bản đồ số 13. Phần diện tích còn lại vợ chồng bà chưa kê khai đăng ký và bị ông Lưu Văn H và bà Dương Thị S lấn chiếm 24m² (chiều ngang 02m, chiều dài 12m). Nay bà D khởi kiện yêu cầu ông Lưu Văn H và bà Dương Thị S trả lại diện tích đất 24m² và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H bà S.

    Bị đơn trình bày: Nguồn gốc đất bị bà Trần Kim D tranh chấp, do con ông tên Lưu Hoàng V nhận chuyển nhượng từ ông Dương Văn T3, bà Huỳnh Thị Xuân T2 và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CH02205, ngày 08/10/2010, diện tích 277m², thửa đất số 79, tờ bản đồ số 13, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị.

    Năm 2015, con ông chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CH05518, ngày 09/5/2015, diện tích 277m², thửa đất số 79, tờ bản đồ số 13, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị. Trước đây, năm 1994 ông Lâm Thanh T (chồng bà D) cất nhà, lấn chiếm đất ông Dương Văn T3, bà Huỳnh Thị Xuân T2, diện tích 12m², các bên tranh chấp và đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật nên ông Trương bà T4 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và ông Trương bà T4 chuyển nhượng lại cho ông V (con ông H bà S). Do đó, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện với căn cứ sau:

    • Thứ nhất, nguyên đơn khai nguồn gốc đất được tặng cho từ vợ chồng ông Thái H1 và bà Phạm Thị T1 nhưng không có chứng cứ để chứng minh cho lời khai này.
    • Thứ hai, bà D (nguyên đơn) khai ông H bà S nhận chuyển nhượng đất từ ông Dương Văn T3 và bà Huỳnh Thị Xuân T2 chiều ngang tiếp giáp đường là 13 mét, nhưng sửa lại là 19 mét. Tuy nhiên, tại bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 22/8/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh T5 tại các điểm 23, 24 chiều ngang tiếp giáp đường là 13,35 mét, đúng với hồ sơ kỹ thuật khu đất ngày 06/4/2014 do Văn phòng Đ chi nhánh T5 cấp cho ông H bà S. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
  6. Nhận định của Hội đồng xét xử: Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp theo quy định của pháp luật và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được những chứng cứ khác ngoài những chứng cứ đã thu thập ở cấp sơ thẩm nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Kim D; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 23/02/2024 về việc “Đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,” của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Kim D phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000233 ngày 04-4-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phánThẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Phan Tô NgọcPhan Văn Yên
Vũ Ngọc Huynh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND CC tại TP Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Cục THADS tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự (4);
  • - Lưu VP 5, HS 2 (DTTP 17)

Phan Văn Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 673/2024/DS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 673/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger