TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 673/2024/DS-PT
Ngày: 30/7/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng thuê
văn phòng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Giang
Các Thẩm phán:
- Ông Bùi Hữu Nhân
- Ông Phan Nguyên Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thị Thanh Hòa là Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 308/2024/TLPT-DS, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng thuê văn phòng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 803/2023/DS-ST, ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3176/2024/QĐ-PT, ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 8962/2024/QĐ-PT, ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc T. Sinh năm 1959.
Địa chỉ: W Chung cư G, số A đường T, phường T, Quận T, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
Địa chỉ: số A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức L. Sinh năm 1970.
Địa chỉ: 7 đường H, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: 466 đường N, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 003543, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 24/3/2023 lập tại Văn phòng C2). (Vắng mặt).
- Bị đơn: Công ty Cổ phần T2.
Địa chỉ trụ sở chính: 19 - A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H. Sinh năm 1982.
Chức danh: Tổng giám đốc. Mã số doanh nghiệp: 0316923075; Đăng ký lần đầu ngày 30/6/2021.
Địa chỉ liên hệ: 10 phố D, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Ngọc L1. Sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số A, phố D, quận C, Thành phố Hà Nội.
(Theo Giấy ủy quyền lập ngày 16/6/2024 tại Công ty Cổ phần T2). (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Mạnh C. Sinh năm 1992.
Địa chỉ: 303 Nhà N03 TT ĐHCĐ, 167 đường T, phường Q, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Số A, phố D, quận C, Thành phố Hà Nội. Là Thành viên Hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần T2. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Ngọc T có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Đức L trình bày:
Ngày 21/4/2022 bà Trần Ngọc T (sau đây gọi là bà T) cho Công ty Cổ phần T2 (sau đây gọi là Công ty T2) thuê toàn bộ tòa văn phòng tại địa chỉ số A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, với thời hạn là 05 (năm) năm.
Từ ngày 21/4/2022 đến hết ngày 20/4/2024 với giá thuê là 299.000.000 (hai trăm chín mươi chín triệu) đồng. Các năm tiếp theo thì giá thuê là 328.900.000 (ba trăm hai mươi tám triệu, chín trăm nghìn) đồng.
Công ty T2 đã đặt cọc cho bà T 02 (hai) tháng tiền thuê là 598.000.000 (năm trăm chín mươi tám triệu) đồng. Đến ngày 21/12/2022 Công ty T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Do đó, bà T đã khởi kiện Công ty T2 với các yêu cầu như sau:
- Chấm dứt Hợp đồng thuê văn phòng ngày 14/4/2022 lập tại Văn phòng C3;
- Buộc Công ty T2 bàn giao văn phòng tại địa chỉ số A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Trần Ngọc T;
- Trả tiền thuê văn phòng còn thiếu từ ngày 21/12/2022 với giá thuê là 299.000.000 (hai trăm chín mươi chín triệu) đồng cùng với phạt vi phạm hợp đồng là 08% trên giá trị hợp đồng bị vi phạm.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Chấm dứt Hợp đồng thuê văn phòng ngày 14/4/2022 lập tại Văn phòng C3; Buộc Công ty T2 bàn giao văn phòng tại địa chỉ số A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà T; Trả tiền thuê văn phòng còn thiếu từ ngày 21/12/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm và 08% giá trị hợp đồng bị vi phạm, sau khi trừ đi 02 tháng tiền cọc là 598.000.000 (năm trăm chín mươi tám triệu) đồng. Nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 2.260.440.000 (hai tỷ, hai trăm sáu mươi triệu, bốn trăm bốn chục nghìn) đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn Công ty Cổ phần T2 nhiều lần nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 803/2023/DS-ST, ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 473, 428, 418 Bộ Luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 132 Luật Nhà ở năm 2014;
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ vào Điều 11 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi năm 2014);
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Ngọc T:
- Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê văn phòng ngày 14/4/2022 lập tại Văn phòng C3 giữa bà Trần Ngọc T và Công ty Cổ phần T2.
- - Buộc Công ty Cổ phần T2 bàn giao toàn bộ văn phòng tại địa chỉ số A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Trần Ngọc T.
- - Buộc Công ty Cổ phần T2 phải trả cho bà Trần Ngọc T số tiền 2.858.440.000 (hai tỷ, tám trăm năm mươi tám triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn) đồng. Thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Công ty Cổ phần T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 87.168.800 (tám mươi bảy triệu, một trăm sáu mươi tám nghìn, tám trăm) đồng.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Ngày 14/10/2023, bị đơn do bà Nguyễn Thị H là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần T2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án cho rằng: Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn bà Trần Ngọc T tiền thuê văn phòng số A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cùng khoản tiền phạt theo hợp đồng số tiền là 2.858.440.000 (hai tỷ, tám trăm năm mươi tám triệu, bốn trăm bốn chục nghìn) đồng là không đúng với thực tế khách quan của sự việc có tranh chấp, đề nghị Tòa phúc thẩm xử hủy toàn bộ án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không có yêu cầu kháng cáo, được Tòa phúc thẩm triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt người đại diện không có lý do.
Bị đơn trình bày kháng cáo tại phiên tòa đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo đúng diễn biến của sự việc có tranh chấp và quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết tại giai đoạn phúc thẩm như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn là hợp lệ. Nguyên đơn được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt người đại diện tham gia phiên tòa không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung giải quyết phúc thẩm vụ án đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng: Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử buộc bị đơn Công ty T2 trả tiền thuê văn phòng (mặt bằng) số A đường H, phường I, quận P, số tiền như đã ghi trong bản án sơ thẩm là không đúng, bởi lẽ sau thời gian 02 (hai) tháng không trả tiền thuê văn phòng, vào ngày 20/02/2023 phía nguyên đơn (bà Trần Ngọc T) thông qua người đại diện ủy quyền là bà Nguyễn Thu T1 đã phát hành Thông báo thu hồi lại mặt bằng đã cho thuê. Như vậy, về nghĩa vụ trong hợp đồng giữa các bên chấm dứt thời điểm này.
Tòa sơ thẩm khi giải quyết tranh chấp buộc bên nhận thuê phải trả tiền thuê mặt bằng, cộng khoản tiền phạt đến thời điểm Tòa sơ thẩm giải quyết vụ án số tiền của hai khoản có yêu cầu là 2.858.440.000 đồng, là không chính xác, gây bất lợi cho bị đơn. Vì lẽ trên, cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty T2, sửa bản án sơ thẩm, chỉ buộc bị đơn phải trả tiền cho thuê mặt bằng đối với nguyên đơn đến ngày 20/3/2023 cộng khoản tiền phạt phát sinh như đã nêu trong đơn khởi kiện. Đồng thời, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
I/ Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn do bà Nguyễn Thị H là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần T2 được thực hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ, nguyên đơn không có yêu cầu kháng cáo được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Tòa phúc thẩm vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo luật định.
II/ Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần T2, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Vào ngày 14/4/2022 tại Văn phòng C3, bà Trần Ngọc T là nguyên đơn có ký hợp đồng cho thuê văn phòng tại địa chỉ số A đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh với ông Nguyễn Mạnh C là người đại diện theo ủy quyền của Công ty T2 do bà Nguyễn Thị H là Giám đốc để làm văn phòng làm việc và kinh doanh. Thời hạn thuê được ghi trong hợp đồng là 05 (năm) năm; Giá thuê được chia làm hai giai đoạn, cụ thể: Từ ngày 22/4/2022 đến ngày 20/4/2024, giá thuê là 299.000.000 đồng/tháng; Từ ngày 21/4/2024 cho đến ngày 20/4/2027, giá thuê là 328.000.000 đồng/tháng. Tiền đặt cọc thuê nhà được ghi trong hợp đồng là
598.000.000 đồng, số tiền cọc này bên A (bên cho thuê) phải hoàn trả lại cho bên thuê (bên B) khi chấm dứt hợp đồng, sau khi đối trừ các khoản mà bên A phải thực hiện.
Quá trình thực hiện hợp đồng thuê văn phòng, đến ngày 21/12/2022 bên nhận thuê Công ty T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê. Theo Biên bản cuộc họp ngày 13 và ngày 15/02/2023 phía bị đơn Công ty T2 chưa trả được tiền thuê mặt bằng hai kỳ liên tiếp, nên bên cho thuê là bà Trần Ngọc T thông qua người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thu T1 đã phát hành Thông báo chấm dứt hợp đồng cho thuê văn phòng, yêu cầu bị đơn là Công ty T2 phải trả lại mặt bằng đã nhận thuê kể từ ngày phát hành thông báo. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng 08% mỗi tháng.
Trong đơn khởi kiện ngày 23/3/2023, nguyên đơn bà Trần Ngọc T có các yêu cầu sau: Bị đơn Công ty T2 phải trả tiền thuê mặt bằng của ba tháng còn thiếu, tính từ ngày 21/12/2022 đến ngày nguyên đơn khởi kiện, số tiền là 897.000.000 đồng, trả tiền phạt bằng 08% giá trị thuê là 71.760.000 đồng. Cộng hai khoản theo đơn khởi kiện bị đơn phải trả là 968.760.000 đồng.
Giải quyết sơ thẩm vụ án, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ theo giao ước tại Điều 3 của bản hợp đồng buộc bị đơn phải trả tiền thuê mặt bằng (văn phòng) từ ngày 21/12/2022 đến ngày Tòa sơ thẩm xét xử vụ án (ngày 21/9/2023), thời gian thuê 09 (chín) tháng với số tiền phải trả là 2.691.000.000 đồng là không chính xác, bởi lẽ sau 02 (hai) tháng không thanh toán đủ tiền thuê mặt bằng, nguyên đơn thông qua người đại diện theo ủy quyền đã ra thông báo thu hồi lại mặt bằng đã cho thuê từ ngày 21/02/2023. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định đến thời điểm trên là chấm dứt, Tòa sơ thẩm buộc bị đơn phải trả tiền thuê mặt bằng cùng khoản tiền phạt đến thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án là không đúng, gây thiệt hại cho bị đơn.
Với phân tích như trên, bị đơn Công ty T2 chỉ phải chịu trách nhiệm trả tiền thuê mặt bằng cho nguyên đơn như theo đơn khởi kiện từ ngày 22/12/2022 đến ngày 23/3/2023, số tiền là 897.000.000 đồng như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ngoài ra bị đơn Công ty T2 còn phải trả khoản tiền phạt như đơn khởi kiện đã ghi 71.760.000 đồng, cộng hai khoản bằng 968.760.000 đồng là phù hợp với thỏa thuận ban đầu được xác lập giữa hai bên.
Ngoài ra, theo thỏa thuận ban đầu được ghi tại trang thứ 6 của hợp đồng, tiền đặt cọc thuê mặt bằng là 598.000.000 đồng, số tiền này bên nhận thuê được nhận lại sau khi chấm dứt hợp đồng, sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lệ. Như vậy, bên cho thuê là bà Trần Ngọc T phải có trách nhiệm trả lại cho Công ty T2 khi hợp đồng thuê văn phòng chấm dứt.
Như vậy, nguyên đơn sẽ được nhận lại số tiền theo các yêu cầu cụ thể sau:
- - Bị đơn Công ty Cổ phần T2 phải trả tiền thuê thuê mặt bằng văn phòng tính từ ngày 21/12/2022 đến ngày nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án, số tiền phải trả là 897.000.000 đồng.
- - Bị đơn Công ty Cổ phần T2 phải trả khoản tiền phạt 08% giá trị hợp đồng mỗi tháng, số tiền nguyên đơn có yêu cầu là 71.760.000 đồng. Cộng hai khoản bị đơn phải thanh toán là 968.760.000 đồng.
Đồng thời, căn cứ theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thuê văn phòng, bên thuê văn phòng có đặt cọc cho bên cho thuê văn phòng số tiền 598.000.000 đồng, sau khi chấm dứt hợp đồng bà Trần Ngọc T phải trả lại cho Công ty T2 số tiền cọc trên sau khi trừ đi các khoản chi phí hợp lệ, trường hợp cụ thể này nguyên đơn phải trả lại số tiền đặt cọc như đã ghi trong hợp đồng. Như vậy, sau khi khấu trừ các khoản, bị đơn Công ty T2 còn phải trả khoản tiền thuê văn phòng cho bà Trần Ngọc T số tiền: 968.760.000 đồng - 598.000.000 đồng = 370.760.000 đồng.
Như đã diễn giải phần trên, tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia phiên tòa cũng thống nhất ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết kháng cáo theo phương án trên được Hội đồng xét xử ghi nhận, bị đơn chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải hoàn trả theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 473, Điều 428, Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 473, 428, 418 Bộ Luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ vào Điều 11 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi năm 2014).
Tuyên xử:
Sửa một phần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 803/2023/DS-ST, ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần T2.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 803/2023/DSST của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc T:
- - Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng cho thuê văn phòng ngày 14/4/2022 lập tại Văn phòng C3 giữa bà Trần Ngọc T với Công ty Cổ phần T2.
- - Buộc Công ty Cổ phần T2 bàn giao toàn bộ văn phòng tại địa chỉ số A, đường H, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Trần Ngọc T.
- - Buộc Công ty Cổ phần T2 phải trả cho bà Trần Ngọc T số tiền thuê văn phòng 03 (ba) tháng còn thiếu (299.000.000 đồng/tháng) là 897.000.000 (tám trăm, chín mươi bảy triệu) đồng.
- - Buộc Công ty Cổ phần T2 phải trả khoản tiền phạt 08% trên số tiền thanh toán là 71.760.000 (bảy mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn) đồng.
Tổng cộng hai khoản bị đơn Công ty Cổ phần T2 phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn bà Trần Ngọc T là 897.000.000 đồng + 71.760.000 đồng = 968.760.000 (chín trăm sáu mươi tám triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Trừ vào số tiền đã đặt cọc trước là 598.000.000 đồng (tại trang 03 của Hợp đồng) nguyên đơn bà Trần Ngọc T có trách nhiệm trả lại sau khi chấm dứt hợp đồng. Số tiền Công ty Cổ phần T2 còn phải trả cho bà Trần Ngọc T là: 968.760.000 đồng - 598.000.000 đồng = 370.760.000 (ba trăm bảy mươi triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn đối với khoản tiền có trách nhiệm phải thanh toán trên, nếu bị đơn không thi hành thì phải trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
Bà Trần Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Công ty Cổ phần T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thi hành án là 18.538.449 (mười tám triệu, năm trăm ba mươi tám nghìn, bốn trăm bốn mươi chín) đồng.
Công ty Cổ phần T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0022464, ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân Tối cao (1);
- - Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP. HCM (1);
- - Viện kiểm sát NDTpHCM (2);
- - Cục THA Dân sự Tp. HCM (1);
- - Tòa án ND Q.Phú Nhuận (1);
- - Chi cục Thi hành án DS Q. Phú Nhuận (1);
- - Các đương sự (5);
- - Lưu 25b.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Giang |
Bản án số 673/2024/DS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng
- Số bản án: 673/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê văn phòng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm Bị đơn phải chịu trách nhiệm trả tiền thuê mặt bằng cho nguyên đơn
