|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 672/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/6/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Bích
Ông Nguyễn Văn Soan
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 190/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 167/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Hồng N, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Dương Ngô T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số C đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 02 năm 2025, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bà Võ Thị Hồng N là nguyên đơn trình bày:
Bà và ông Dương Ngô T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, giấy kết hôn số 91/2008, quyển số 02 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào ngày 08/9/2008.
Lúc đầu mới về chung sống với nhau bà và ông T rất hạnh phúc, đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về tính cách, lối sống, phong tục vùng miền. Từ năm 2015 bà đã sống ly thân với ông T cho đến nay, vợ chồng không ai chăm sóc, lo lắng cho nhau. Nay, tình cảm bà dành cho ông T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên bà yêu cầu ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Ngọc L, sinh ngày 11/11/2009.
Bà có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa ngày 14/5/2025 bị đơn – ông Dương Ngô T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện của bà Võ Thị Hồng N thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn ông Dương Ngô T hiện tạm trú tại địa chỉ Số C đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bà N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, ông T đã được Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Về nội dung vụ án :
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91/2008, quyển số 02 ngày 08/9/2008 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Căn cứ vào trình bày của bà N trong quá trình chung sống, bà N xác định ban đầu vợ chồng sống vui vẻ, hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng không hòa hợp về tính cách, lối sống, đồng thời phong tục vùng miền của mỗi người cũng khác nhau. Bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục chung sống. Tòa án đã nhiều lần phân tích, động viên bà N hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn để tham gia hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng bị đơn vắng mặt và không gửi văn bản ý kiến, việc này thể hiện bị đơn thờ ơ, không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm gia đình. Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà N yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Dương Ngọc L, sinh ngày 11/11/2009.
Căn cứ vào biên bản tự khai của trẻ L ngày 24/3/2025 thể hiện: Nguyện vọng của trẻ muốn ở với bà N vì bà N đã nuôi dưỡng, chăm sóc yêu thương trẻ L. Vì vậy, để bảo đảm ổn định cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng của trẻ, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông Dương Ngô T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bà N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
-
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Hồng N được ly hôn với ông Dương Ngô T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 91/2008, quyển số 02 ngày 08/9/2008 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang hết hiệu lực.
-
Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Ngọc L, sinh ngày 11/11/2009.
Giao trẻ Dương Ngọc L cho bà Võ Thị Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Về nợ chung và tài sản chung khi ly hôn: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
-
Về án phí sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0057363 ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
-
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Nga |
Bản án số 672/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 672/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Hồng N - Dương Ngô T
