TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 672/2025/DSPT
Ngày: 16/06/2025
V/v: “Tranh chấp đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương
- Các Thẩm phán:Ông Phan Nguyên Nguyên
- Bà Lê Thị Ngọc Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 14/04/2025, ngày 28/5/2025 và ngày 16/06/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2025/DSPT ngày 13 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 495/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1006/2025/QĐPT-DS ngày 04/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3533/2025/QĐ-PT ngày 21/03/2025 và thông báo tiếp tục phiên tòa ngày 12/05/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Công T, sinh năm 1976;
Địa chỉ: B T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim H (Giấy uỷ quyền số 019117 lập tại Văn phòng C ngày 14/11/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Cao Đình T1 - Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Lý Quốc O, sinh năm 1963;
Địa chỉ: 1 C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Công ty L3; Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà S - A C, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số 006512 lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/6/2023).
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thanh T2; Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà S - A C, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy uỷ quyên ngày 20/6/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phạm Thanh P – Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Công T và bị đơn ông Lý Quốc O.
(Phiên tòa có mặt: bà Đỗ Thị Kim H, ông Nguyễn Thanh T2, Luật sư Cao Đình T1).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Công T có bà Đỗ Thị Kim H đại diện trình bày:
Ngày 01/7/2020, ông T và ông O ký Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/MKT với nội dung: Ông Lý Quốc O bán cho ông 01 máy sản xuất khẩu trang tự động Model MMY-166 với giá tiền là 2.300.000.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng, ông T đã chuyển cho ông O tổng số tiền là 2.300.000.000 đồng theo các phiếu nộp tiền và giấy báo nợ vào các ngày: Ngày 04/7/2020 ông T đã chuyển cho ông O số tiền là 230.000.000 đồng thông qua bà Trương Thị Cẩm N là Kế toán Công ty TNHH S-DV Quảng cáo Nghiệp Thắng do ông O là giám đốc, nội dung chuyển ghi rõ: Trần Công T chuyển tiền mua máy làm khẩu trang; Ngày 08/7/2023 ông T tiếp tục chuyển cho ông O số tiền 460.000.000 đồng, nội dung ghi rõ: CK tiền mua máy khẩu trang; Ngày 23/7/2023 ông chuyển 1.610.000.000 đồng cho ông O, nội dung ghi rõ: Trần Công T chuyển tiền mua máy khẩu trang.
Sau khi ông T đã chuyển đủ số tiền 2.300.000.000 đồng nhưng ông O không thực hiện việc bán máy sản xuất khẩu trang như trong hợp đồng, ông T đã chủ động liên hệ trực tiếp đề nghị ông O thực hiện hợp đồng nhưng ông O không thực hiện, nhiều lần ông O dẫn ông T đến các xưởng sản xuất, lắp ráp máy làm khẩu trang và giải thích rằng máy đang được lắp ráp, nhưng đến nay vẫn không thực hiện giao máy khẩu trang cho ông T.
Đến ngày 01/6/2021, do không thể giao máy làm khẩu trang cho ông T nên ông O xin ông T giảm 10% trên tổng số tiền đã nhận, tương ứng với 230.000.000 đồng và ký giấy cam kết sẽ chuyển vào ngày 25/6/2021.
Tuy nhiên, đến nay ông O chỉ trả cho ông T số tiền 525.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 23/6/2021 trả 1.000.000 đồng; Ngày 24/6/2021 trả 4.000.000 đồng; Ngày 25/6/2021 trả 100.000.000 đồng; ngày 26/6/2021 trả 50.000.000 đồng; Ngày 3/7/2021 trả 20.000.000 đồng; ngày 9/7/2021 trả 30.000.000 đồng; Ngày 16/7/2021 trả 100.000.000 đồng; Ngày 29/7/2021 trả 50.000.000 đồng; Ngày 07/8/2021 trả 30.000.000 đồng; Ngày 9/9/2021 trả 30.000.000 đồng; Ngày 21/9/2021 trả 30.000.000 đồng; Ngày 01/10/2021 trả 20.000.000 đồng; Ngày 9/10/2021 trả 20.000.000 đồng; Ngày 15/10/2021 trả 20.000.000 đồng; Ngày 27/10/2021 trả 20.000.000 đồng.
Do ông O không thực hiện theo đúng cam kết hoàn trả tiền cho ông T trong ngày 25/6/2021 nên ông T không đồng ý giảm 10% theo thỏa thuận ngày 01/6/2021, yêu cầu ông O trả số tiền 2.300.000.000 đồng.
Sau khi trừ đi số tiền ông O đã trả, đến nay, ông O còn nợ ông T số tiền 1.775.000.000 đồng. Mặc dù ông T đã liên hệ nhiều lần yêu cầu ông O thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền cho ông T nhưng ông O vẫn không trả. Việc ông O không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã chiếm dụng của ông T gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của ông T. Vì vậy, ông Trần Công T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lý Quốc O phải trả cho ông T toàn bộ số tiền là 2.248.000.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 1.775.000.000 đồng, tiền lãi 473.000.000 đồng (32 tháng x 0.833%/tháng (lãi suất tạm tính 10%/năm/12 tháng), tính từ ngày 28/10/2021 đến 23/7/2024).
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 1.775.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 28/10/2021 đến ngày 23/7/2024 là 473.000.000 đồng, tổng cộng là 2.248.000.000 đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Thanh T2 trình bày:
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì yêu cầu của nguyên đơn hoàn toàn không đúng sự thật, không có căn cứ, cụ thể:
Thứ nhất ông O cho rằng ông hoàn toàn không vay nợ ông Trần Công T bất kỳ khoản tiền nào và cũng không chiếm giữ sử dụng khoản tiền nào của ông T một cách trái pháp luật. Theo thông tin từ ông O thì sau thời gian trao đổi, thương lượng, ông O và ông T quyết định tiến hành ký kết Hợp đồng gia công để sản xuất khẩu trang. Khi hợp tác, Công ty Cổ phần T4 (gọi tắt là Công ty T4) do ông T là người đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm cung cấp dàn máy sản xuất, Công ty TNHH S1 (gọi tắt là Công ty S1) do ông O là người đại diện theo pháp luật sẽ chịu trách nhiệm cung cấp nguyên vật liệu, nhân công, phụ trách tìm kiếm đơn hàng... Để tiến hành việc hợp tác này, ngày 01/7/2020 ông T đã ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/HĐMB/MKT (gọi tắt là hợp đồng mua bán hàng hóa số 01 hoặc hợp đồng mua bán hàng hóa) với ông O. Toàn bộ số tiền ông T chuyển tiền cho ông O là để thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền mua Máy khẩu trang theo nội dung Hợp đồng mua bán hàng hóa số 01/HĐMB/MKT. Sau khi nhận được tiền từ ông T, ông O đã tiến hành thực hiện các nghĩa vụ của mình theo đúng thỏa thuận. Ngày 02/7/2020 Công ty T4 đã ký kết Hợp đồng gia công số 01/HĐGC/NT-ML (gọi tắt là hợp đồng gia công số 01 hoặc hợp đồng gia công) với Công ty S1. Và dàn máy Công ty T4 sử dụng để hợp tác với Công ty S1 chính là dàn máy sản xuất khẩu trang MMY-166 mà ông T đã mua từ ông O theo Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/MKT. Như vậy có thể thấy mặc dù các bên không ký biên bản bàn giao dàn máy sản xuất khẩu trang nhưng ông T đã sử dụng dàn máy MMY-166 mua từ Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB/MKT để sản xuất khẩu trang, thực hiện các nghĩa vụ được nêu trong Hợp đồng gia công. Điều này chứng minh việc bàn giao máy của ông O đã thực hiện đúng với quy định của hợp đồng. Việc ông T cho rằng ông O không tiến hành bán máy khẩu trang theo thỏa thuận hợp đồng là hoàn toàn vô lý và không đúng sự thật khách quan của vụ việc.
Thứ hai về quá trình thực hiện Hợp đồng gia công. Trên thực tế sau khi ký hợp đồng gia công, mặc dù việc sản xuất kinh doanh khẩu trang gặp nhiều khó khăn và hầu như không có lãi nhưng trên tinh thần thiện chí, hợp tác, phía ông O (Công ty S1) vẫn thường xuyên thanh toán các khoản tiền lợi nhuận theo cam kết cho phía đại diện Công ty T4 của ông T. Cụ thể: Ngày 23/6/2021, ông O giao cho ông D nhận 1.000.000 đồng, ngày 24/6/2021, ông D nhận 4.000.000 đồng, ngày 25/6/2021 ông O đã giao cho ông D là đại diện Công ty T4 số tiền 100.000.000 đồng, ngày 26/6/2021 ông O giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 50.000.000 đồng, ngày 03/7/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện
Công ty T4 số tiền 20.000.000 đồng, ngày 09/7/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 30.000.000 đồng, ngày 16/7/201 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 100.000.000 đồng, ngày 29/7/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 50.000.000 đồng, ngày 07/8/2021 ông O giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 30.000.000 đồng, ngày 9/9/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 20.000.000 đồng, ngày 21/9/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 30.000.000 đồng, ngày 01/10/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 20.000.000 đồng, ngày 09/10/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 20.000.000 đồng, ngày 15/10/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 20.000.000 đồng, ngày 27/10/2021 ông O đã giao cho ông D đại diện Công ty T4 số tiền 20.000.000 đồng. Sau đó tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhận thấy việc hợp tác kinh doanh với Công ty T4 không đem lại hiệu quả, thậm chí dẫn đến thua lỗ nên Công ty S1 đã nhiều lần gửi văn bản thông báo cho phía ông T về việc chấm dứt quan hệ hợp tác theo Hợp đồng gia công. Tuy nhiên, phía ông T vẫn không có bất kỳ phản hồi nào. Để tránh thiệt hại tiếp tục phát sinh và giải quyết triệt để vấn đề, ngày 07/01/2022 Công ty S1 đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Tòa án tuyên chấm dứt Hợp đồng gia công và buộc Công ty T4 nhận lại dàn máy sản xuất khẩu trang tự động MMY-166. Ngày 29/9/2022, Tòa án nhân dân Quận 10 ra Quyết định số 83/2022/QĐST- KDTM về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Theo đó tại mục 2 phần Quyết định thể hiện: Công ty Cổ phần T4 và Công ty TNHH S1 Quảng cáo Nghiệp Thắng thống nhất chấm dứt Hợp đồng gia công số 01/HĐGC.NT-ML ký ngày 02/7/2020. Mặc dù hợp đồng gia công đã chấm dứt ông T không hề kháng cáo, khiếu nại gì đối với Quyết định nêu trên nhưng ông T vẫn không chịu nhận lại Dàn máy sản xuất khẩu trang. Do đó, trong suốt thời gian qua, Công ty S1 vẫn phải thuê địa điểm, mặt bằng lưu giữ và thuê người trông coi, bảo dưỡng Dàn máy, gây thiệt hại rất lớn cho phía ông O. Từ những phân tích nêu trên cho thấy, trên thực tế, sau khi ký kết hợp gia công hai bên đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Phía Công ty S1 đã cung cấp nguyên vật liệu để sản xuất khẩu trang và thanh toán tiền lợi nhuận cho phía Công ty T4 cho đến ngày 27/10/2021. Công ty T4 đã bàn giao, lắp đặt Dàn máy khẩu trang tự động MMY-166 theo đúng thỏa thuận và cũng nhận được các khoản tiền lợi nhuận theo như nội dung của Hợp đồng. Điều này cho thấy, việc mua bán, bàn giao Dàn máy khẩu
trang giữa các bên đã được thực hiện xong, sau đó mới tiếp tục thực hiện Hợp đồng gia công.
Thứ ba liên quan đến Giấy cam kết mua lại máy của ông Lý Quốc O đề ngày 01/6/2021. Giấy cam kết nêu trên chỉ là đề xuất một phía từ ông Lý Quốc O về việc mua bán lại Dàn máy khẩu trang từ ông T với giá giảm 10% thời hạn đề xuất tới ngày 25/6/2021. Do tình hình việc sản xuất và kinh doanh khẩu trang không đem lại lợi nhuận nên ngày 01/6/2021 ông O đã đề xuất phương án mua lại dàn máy sản xuất khẩu trang của ông T với mức giá giảm 10% và dự tính sẽ thực hiện đề xuất nêu trên vào ngày 25/6/2021. Tuy nhiên, sau khai nhận được nội dung đề nghị nêu trên, ông T không có bất kỳ phản hồi nào về việc chấp thuận đề xuất của ông O nên đề xuất này mặc nhiên đã hết hiệu lực kể từ ngày 25/6/2021, bởi các lý do sau: Văn bản nếu trên chỉ là ý kiến của cá nhân ông O trên văn bản chỉ có chữ ký của ông O, hoàn toàn không có ý kiến và chữ ký của ông T về việc có chấp thuận với đề xuất nêu trên hay không. Giữa ông O và ông T không có thỏa thuận về sự im lặng là đồng ý đề xuất giao kết. Và từ trước đến nay, giữa hai bên không có thiết lập thói quen này. Sau khi thời hạn đề xuất được nêu trong Giấy cam kết hết vào ngày 25/6/2021, phía ông T không có thông tin phản hồi nên ông O tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của Hợp đồng gia công bằng việc trả tiền lợi nhuận kể từ ngày 25/6/2021 đến ngày 27/10/2021. Như vậy, việc ông T chấp thuận nhận các khoản tiền thanh toán lợi nhuận từ phía ông O liên quan đến hợp đồng gia công thể hiện việc không đồng ý bán lại dàn máy cho ông O đồng nghĩa với việc không đồng ý bán lại dàn máy khẩu trang cho ông O. Vì nếu ông T chấp nhận đề xuất việc bán lại dàn máy cho ông O đồng nghĩa với việc ông T không còn dàn máy nào để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng gia công nên không thể nhận tiền lợi nhuận từ hợp đồng này.
Từ những nội dung nêu trên, bị đơn cho rằng yêu cầu đòi lại khoản tiền đã thanh toán cho việc mua bán dàn máy sản xuất khẩu trang của ông T hoàn toàn không có cơ sở và không đúng với sự thật khách quan của vụ việc, đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án số 495/2024/DS-ST ngày 01/08/2024, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Công T:
Buộc ông Lý Quốc O có trách nhiệm cho ông Trần Công T tổng số tiền là 1.971.673.973 đồng, trong đó tiền gốc 1.545.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 28/10/2021 đến ngày 31/7/2024 là 426.673.973 đồng theo Giấy cam kết ngày 01/6/2021.
Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Công T về việc buộc bị đơn ông Lý Quốc O thanh toán số tiền 276.326.027 đồng, trong đó tiền gốc là 230.000.000 đồng, tiền lãi là 46.326.027 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 15/8/2024 nguyên đơn ông Trần Công T có đơn kháng cáo một phần bản án; Ngày 13/8/2024 bị đơn ông Lý Quốc O có đơn kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm số 495/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện nguyên đơn và đại diện bị đơn cung cấp thêm giấy chứng nhận kết hôn của ông Trần Công T và ông Lý Quốc O. Đại diện bị đơn cung cấp thêm chứng cứ mới gồm: Các phiếu thu, hóa đơn giá trị ngày 19/05/2021 của Công ty S1 về việc bán khẩu trang với Công ty cổ phần D1 với số tiền là 1.500.000 đồng; hóa đơn giá trị gia tăng ngày 28/05/2021 của Công ty S1 về việc bán khẩu trang với chi nhánh tổng Công ty C2 và dịch vụ ô tô với số tiền là 17.000.025 đồng để thể hiện các bên có thực hiện hợp đồng gia công số 01/HĐGC/NT-ML ngày 02/7/2020.
Đại diện nguyên đơn và đại diện bị đơn cùng xác nhận là hợp đồng mua bán số 01 và hợp đồng gia công số 01 có liên quan với nhau, hợp đồng mua bán được ký để thực hiện hợp đồng gia công nên địa điểm và thời gian giao máy của hợp đồng mua bán phụ thuộc vào hợp đồng gia công.
Đại diện nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào giấy cam kết ông O viết ngày 01/06/2021 và hợp đồng mua bán số 01 giữa các bên. Giấy cam kết ông O viết thể hiện ông T giảm 10% giá trị máy, tuy nhiên ông T không đồng ý vì ông O
không thực hiện đúng nội dung cam kết nên căn cứ Hợp đồng mua bán là ông O chưa giao máy đề nghị ông O hoàn trả toàn bộ số tiền mà ông T đã thanh toán cho ông O. Do đó, nguyên đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, theo hướng: Ngoài số tiền bản án sơ thẩm đã tuyên thì buộc ông Lý Quốc O phải hoàn trả thêm số tiền 10% giá trị hợp đồng tương đương số tiền 230.000.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu đồng); chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải hoàn trả số tiền là 2.300.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm triệu đồng) và lãi suất trên số tiền cho đến thời điểm xét xử tháng 10/2024 với lãi suất 10%/ năm là 833.750.000 đồng.
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn – Luật sư Cao Đình T1 có ý kiến tranh luận như sau:
Căn cứ Hợp đồng mua bán máy được ký kết giữa ông O và ông T, tài liệu chứng cứ bị đơn cung cấp, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định phía bị đơn ông Lý Quốc O không giao dàn máy sản xuất khẩu trang model MMY-166 cho ông Trần Quốc T3 theo như hợp đồng đã ký.
Đối với giấy cam kết do ông Lý Quốc O lập ngày 01/6/2021: Nội dung giấy cam kết mà ông O lập là căn cứ vào Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB ký ngày 01/7/2020 giữa ông O và ông T3. Ông O phải chịu trách nhiệm thực hiện nội dung mình đã cam kết.
Đối với số tiền ông O đã trả cho ông T3 số tiền 525.000.000 đồng: Số tiền này được trả sau khi hợp đồng gia công hết hiệu lực. Đồng thời, số tiền ông O trả cho ông T3 là sau thời điểm ông O viết giấy cam kết ngày 01/6/2021, do đó có thể khẳng định đây là số tiền ông O trả lại tiền mà ông T3 đã chuyển cho ông O mua máy sản xuất khẩu trang theo nội dung đã cam kết ngày 01/6/2021.
Về tiền lãi thì theo giấy cam kết ngày 01/6/2021, ông O cam kết trả hết tiền cho ông T3 vào ngày 25/6/2021 nhưng không trả. Như vậy kể từ sau ngày 25/6/2021, ông O đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do đó ông O phải chịu trả thêm lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015. Do hai bên không có thỏa thuận tiền lãi nên áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 là 10%/năm. Do đó việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lãi là có căn cứ.
Từ những nhận định trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện bị đơn trình bày: Đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm tố tụng đưa thiếu người liên quan của vụ án và không đáng giá đúng giá trị pháp lý về giấy cam kết.
- - Nguyên đơn đề nghị cấp sơ thẩm giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa và xác định giá trị của giấy cam kết xuất phát từ quan hệ hợp đồng mua bán, cấp sơ thẩm xác định là tranh chấp đòi tài sản là chưa chính xác vì hợp đồng mua bán hàng hóa còn liên quan đến nghĩa vụ bàn giao dàn máy.
- + Hợp đồng mua bán dàn máy số 01/HĐMB/MKT ngày 01/07/2020 và hợp đồng gia công 01/HĐGC /NT -ML ngày 02/07/2020 có mối quan hệ mật thiết với nhau. Các bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán dàn máy sản xuất khẩu trang để sử dụng dàn máy này thực hiện hợp đồng gia công. Do đó, nếu không có việc mua bán dàn máy sản xuất khẩu trang thì không có việc ký hợp đồng gia công và ngược lại.
- + Dàn máy sản xuất khẩu trang mà các bên mua bán MMY-166 hiện nay do Công ty TNHH S1 đang lưu giữ và bảo quản. Tòa án sơ thẩm nhận định chấp căn cứ giấy cam kết để chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn nhưng không giải quyết về việc dàn máy khẩu trang được xử lý như thế nào là chưa giải quyết dứt điểm về hậu quả pháp lý.
- - Các bên tranh chấp có ý kiến khác nhau về số tiền 525.000.000 đồng bị đơn trả cho nguyên đơn thông qua ông Lê Văn D. Bị đơn cho rằng đây là khoản tiền Công ty S1 chi trả lợi nhuận cho Công ty T4 để thực hiện hợp đồng gia công, theo cam kết cho đại diện Công ty T4 thể hiện: Các lần nhận tiền ông D đều nhận với tư cách là đại diện của Công ty T4, không phải đại diện cá nhân ông Trần Công T. Nếu số tiền nêu trên nguyên đơn nhận định là trả tiền mua máy thì người nhận tiền phải đại diện cá nhân ông T để nhận nhưng thực tế ông D đại diện cho Công ty T4 (pháp nhân) để nhận khoản tiền này. Mặt khác, thời điểm này giữa Công ty S1 và Công ty T4 đã ký kết hợp đồng hợp tác gia công sản xuất khẩu trang. Theo thỏa thuận hợp đồng, Công ty T4 góp dàn máy MMY-166 để sản xuất khẩu trang và hưởng tiền lợi nhuận nên việc ông O đại diện cho Công ty S1 trả tiền cho ông D đại diện Công ty T4 là khoản tiền lợi nhuận liên quan đến hợp đồng gia công.
Tuy nhiên trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Công ty S1, Công ty T4 và ông Lê Văn D vào tham gia tố tụng với tư cách
là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán tuy được ký kết giữa ông O và ông T nhưng Ông T và ông O đều có vợ nhưng không đưa vợ ông T và vợ ông O vào tham gia tố tụng.
Về mặt nội dung, cấp sơ thẩm không đánh giá đúng về giá trị pháp lý của Giấy cam kết đề ngày 01/06/2021. Giấy cam kết chỉ là 1 lời đề nghị giao kết hợp đồng một phía từ bị đơn về việc mua lại dàn máy khẩu trang của ông T với giá thành giảm 10%, thời hạn đề nghị tính đến ngày 25/06/2021. Tuy nhiên, sau khi nhận đề xuất này, ông T không có ý kiến đồng ý mà tiếp tục dùng máy này để thực hiện hợp đồng gia công (thông qua việc Công ty T4 nhận tiền lợi nhuận từ Công ty S1). Vì vậy, Giấy cam kết về việc đề nghị giao kết hợp đồng mua lại dàn máy của ông O mặt nhiên chấm dứt và không còn giá trị pháp lý kể từ ngày 25/06/2021.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của đương sự nộp trong hạn luật định. Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Công T và bị đơn ông Lý Quốc O, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 495/2024/DS-ST ngày 01/08/2024, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 01/08/2024 Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bản án số 495/2024/DS-ST. Nguyên đơn ông Trần Công T nộp đơn kháng cáo vào ngày 15/08/2024. Bị đơn ông Lý Quốc O nộp đơn kháng cáo vào ngày13/8/2024. Căn cứ khoản 1 Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn xác nhận căn cứ khởi kiện vụ án xuất phát từ Hợp đồng mua bán máy số 01 ngày 01/07/2020 giữa ông Lý Quốc O với ông Trần Công T và Giấy cam kết ông O viết ngày 01/06/2021. Các bên chưa thực hiện thủ tục thanh lý hay chấm dứt hợp đồng mua bán máy giữa hai bên nên quan hệ tranh chấp cần phải xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản" .
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư ngụ tại Quận A,Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm. Do có kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn: nguyên đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, theo hướng: Ngoài số tiền bản án sơ thẩm đã tuyên thì buộc ông Lý Quốc O phải hoàn trả thêm số tiền 10% giá trị hợp đồng tương đương số tiền 230.000.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu đồng); chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải hoàn trả số tiền là 2.300.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm triệu đồng) và lãi suất trên số tiền cho đến thời điểm xét xử tháng 10/2024 với lãi suất 10%/ năm là 833.750.000 đồng. Bị đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì vi phạm tố tụng và không đánh giá đúng giá trị pháp lý của giấy cam kết.
Như đã nhận định tại mục [1.2] xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” và tài sản mua bán là Dàn máy sản xuất khẩu trang MMY- 166.
Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về việc giao nhận dàn máy sản xuất khẩu trang. Nguyên đơn cho rằng bị đơn chưa thực hiện việc giao dàn máy sản xuất khẩu trang, bị đơn cho rằng đã bàn giao xong. Tại mục [5.2] của bản án sơ thẩm, cấp sơ thẩm có nhận định về hợp đồng
gia công được ký kết giữa hai Công ty S1 với Mỹ L để xác định việc bị đơn đã giao dàn máy sản xuất khẩu trang cho nguyên đơn nhưng cấp sơ thẩm không lấy lời khai cũng như không đưa Công ty S1 và Công ty T4 vào tham gia tố tụng. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện nguyên đơn và đại diện bị đơn cùng xác nhận là hợp đồng mua bán số 01 giữa ông T với ông O và hợp đồng gia công số 01 giữa Công ty S1 với Công ty T4 có liên quan với nhau, không thể tách rời nhau. Hợp đồng mua bán số 01 được ký để mua bán Dàn máy sản xuất khẩu trang nhằm thực hiện hợp đồng gia công số 01 giữa hai Công ty nên địa điểm giao máy và thời gian phụ thuộc vào hợp đồng gia công. Bên cạnh đó, đại diện bị đơn trình bày, dàn máy khẩu trang mà ông T mua của ông O theo hợp đồng mua bán số 01 hiện nay do Công ty S1 đang lưu giữ và bảo quản. Do đó, cần phải đưa Công ty S1 và Công ty T4 vào tham gia tố tụng để xem xét, đánh giá về việc bàn giao dàn máy sản xuất khẩu trang giữa hai Công ty để từ đó xác định việc bàn giao dàn máy giữa ông T và ông O cũng như giải quyết dứt điểm hậu quả pháp lý của hợp đồng mua bán máy số 01.
Giữa nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về số tiền 525.000.000 đồng, bị đơn đã đưa cho ông Lê Văn D. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn cung cấp thêm các phiếu thu, hóa đơn giá trị ngày 19/05/2021 của Công ty S1 về việc bán khẩu trang với Công ty cổ phần D1 với số tiền là 1.500.000 đồng; hóa đơn giá trị gia tăng ngày 28/05/2021 của Công ty S1 về việc bán khẩu trang với chi nhánh tổng Công ty C2 và dịch vụ ô tô với số tiền là 17.000.025 đồng để thể hiện các bên có thực hiện hợp đồng gia công số 01/HĐGC/NT-ML ngày 02/7/2020 và số tiền ông Lý Quốc O đưa cho ông Lê Văn D là khoản tiền lợi nhuận khi thực hiện hợp đồng gia công giữa hai Công ty, do ông Lý Quốc O (đại diện Công ty S1) đưa cho ông Lê Văn D đại diện (Công ty T4) còn phía Nguyên đơn cho rằng số tiền trên ông Lý Quốc O đưa cho ông Lê Văn D là khoản tiền bị đơn trả lại tiền mua máy cho nguyên đơn nên cần phải đưa Công ty S1 và Công ty T4 cũng như ông Lê Văn D vào tham gia tố tụng để làm rõ về khoản tiền trên.
Từ các phân tích trên, nhận thấy tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh từ hợp đồng mua bán máy số 01/HĐMB/MKT ngày 01/07/2020 có liên quan mật thiết đến hợp đồng gia công số 01/HĐGC/NT-ML ngày 02/7/2020 giữa Công ty TNHH S-S1 và Công ty cổ phần T4 về việc giao nhận dàn máy, giao nhận tiền, việc hợp tác và thực hiện hợp đồng gia công nên phải đưa Công ty S1 và Công ty T4 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Hợp đồng mua bán số 01 được ký giữa cá nhân ông T với ông O. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện nguyên đơn và bị đơn cung cấp giấy chứng nhận kết hôn giữa ông Trần Công T với bà Vũ Lê H1 và ông Lý Quốc O với bà Trần Thị Kim L1 cần lấy lời khai của bà H1 với bà L1 để xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự theo qui định pháp luật.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc hủy bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự theo qui định pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về việc sửa bản án sơ thẩm.
[2.2] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: sẽ được xem xét, quyết định khi vụ án được xét xử lại.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho nguyên đơn. Bị đơn thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí và án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- - Căn cứ Luật thi hành án Dân sự;
Tuyên xử:
1. Huỷ toàn bộ B ản án dân sự sơ thẩm số 495/2024/DS-ST ngày 01 tháng 08 năm 2024 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được xem xét, quyết định khi vụ án được xét xử lại.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: H2 lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng cho ông Trần Công T theo biên lai thu số 7044 ngày 26/08/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 672/2025/DSPT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 672/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đồi tài sản
