|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 671/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Định.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lại Hữu Tâm.
- Bà Nguyễn Thị Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 992/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 423/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 374/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Hồ Hồng T, sinh năm: 1981 (vắng mặt – có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: A18/557 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Đinh Thanh D, sinh năm: 1982 (vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: A18/557 ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - nguyên đơn bà Dương Hồ Hồng T trình bày: Bà và ông Đinh Thanh D chung sống với nhau từ năm 2005, có tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 18/10/2005 tại Ủy ban nhân dân xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống bình thường, không có gì xảy ra. Đến tháng 7 năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, bà đã dọn ra bên ngoài sinh sống, mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai.
Bà và ông D đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đinh Thanh D.
Về con chung: Bà và ông D chung sống có 02 con chung là trẻ Đinh Thị Thanh T (giới tính nữ), sinh ngày 08/02/2006 (đã trưởng thành) và Đinh Thanh Thủy T (giới tính nữ), sinh ngày 02/10/2011, hiện 02 trẻ Thanh T và Thủy T đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Đinh Thanh Thủy T, bà không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đinh Thanh D vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Hồ Hồng T; giao con chung là trẻ Đinh Thanh Thủy T (giới tính nữ), sinh ngày 02/10/2011 cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: bà T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Dương Hồ Hồng T nộp đơn xin ly hôn đối với ông Đinh Thanh D. Ông Đinh Thanh D hiện đang cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Dương Hồ Hồng T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông Đinh Thanh D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đinh Thanh D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập ông Đinh Thanh D đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa bà Dương Hồ Hồng T với ông Đinh Thanh D nhưng ông D không đến Tòa án để giải quyết. Vì vậy, ông Đinh Thanh D tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông Đinh Thanh D phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 126/2005 do Ủy ban nhân dân xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2005 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Hồ Hồng T và ông Đinh Thanh D là hôn nhân hợp pháp được quy định tại các Điều 9, 10, 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
[5] Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông D không thể hàn gắn được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông D để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà T thì giữa bà và ông D phát sinh mâu thuẫn từ tháng 7 năm 2023, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, bà đã dọn ra bên ngoài sinh sống, mỗi người sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, tình cảm vợ chồng đối với nhau không còn. Bà và ông D đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông D. Như vậy, vợ chồng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa, ông D cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hòa giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ giữa hai người đã không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Hồ Hồng T đối với ông Đinh Thanh D.
[6] Về con chung: Bà và ông D có 02 (hai) con chung là trẻ Đinh Thị Thanh T (giới tính nữ), sinh ngày 08/02/2006 (đã trưởng thành) và Đinh Thanh Thủy T (giới tính nữ), sinh ngày 02/10/2011. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Đinh Thanh Thủy T, bà không yêu cầu ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời nguyện vọng của trẻ Thủy T muốn sống chung với bà T nếu cha mẹ ly hôn. Ông D vắng mặt không thể hiện ý kiến về con chung giữa bà T với ông D nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết vấn đề con chung theo yêu cầu của bà T, nếu sau này ông D có tranh chấp về nuôi con sẽ được giải quyết trong một vụ án khác. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, bà T được quyền tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Đinh Thanh Thủy T (giới tính nữ), sinh ngày 02/10/2011, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông D cho đến khi bà T có yêu cầu.
[7] Về tài sản chung: Bà T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về nợ chung: Bà T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà Dương Hồ Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Hồ Hồng T đối với ông Đinh Thanh D.
Bà Dương Hồ Hồng T được ly hôn với ông Đinh Thanh D.
Giấy chứng nhận kết hôn số 126/2005 do Ủy ban nhân dân xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2005 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Bà Dương Hồ Hồng T và ông Đinh Thanh D có 02 (hai) con chung là trẻ Đinh Thị Thanh T (giới tính nữ), sinh ngày 08/02/2006 (đã trưởng thành) và Đinh Thanh Thủy T (giới tính nữ), sinh ngày 02/10/2011. Bà Dương Hồ Hồng T được quyền tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Đinh Thanh Thủy T; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đinh Thanh D.
Ông Đinh Thanh D có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung: Bà T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Dương Hồ Hồng T chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0020793 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà T và ông D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
2000012 461200 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim Định |
Bản án số 671/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 671/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Hồ Hồng T, Đinh Thanh D
