TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 670/2024/DS-PT
Ngày: 26-7-2024.
V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.
Các Thẩm phán:
Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Bà Trịnh Thị Ánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thuỳ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 25/7/2024 và 26/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 445/2024/TLPT-DS ngày 23/5/2024: “Tranh chấp chia tài sản chung”; Do bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3091/2024/QĐ-PT ngày 07/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 9710/2024/QĐ-PT ngày 04/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tất T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số B H, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Hồ Thị R, sinh năm 1944; Địa chỉ: Số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị vắng mặt).
- Bà Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 2005; Địa chỉ: Số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uỷ quyền ngày 11/4/2023) (có mặt);.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị T1, sinh năm 2000; Địa chỉ liên hệ: Số A N, khu đô thị V, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 05/8/2022) (có mặt ngày 25/7/2024, vắng mặt ngày 26/7/2024).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1986 - Luật sư Công ty L - Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt ngày 25/7/2024, vắng mặt ngày 26/7/2024).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản uỷ quyền ngày 11/4/2023) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Đại diện Nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh được cha mẹ là ông Nguyễn Văn T6 và bà Hồ Thị R tặng cho theo Hợp đồng tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất số 00009155, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/5/2017 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3 được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 11279 ngày 19/6/2017 cho ông Nguyễn Tất T và cấp cho bà Nguyễn Thanh T3 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 11278 ngày 19/6/2017.
Tài sản chung là nhà, đất nêu trên đang được bà T3 trực tiếp quản lý và sử dụng. Ông T gặp khó khăn, nợ nần nên đã nhiều lần liên hệ với bà T3 về việc chia đôi phần tài sản chung nêu trên nhưng bà T3 không đồng ý. Do đó, ông Nguyễn Tất T khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu: Chia tài sản chung của ông Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3 là nhà và đất trên theo tỷ lệ 50/50. Giá trị tài sản căn cứ theo biên bản định giá ngày 28/3/2023. Nguyên đơn đồng ý trừ tiền sửa chữa tài sản chung vào giá trị tài sản chung cho bà Nguyễn Thanh T5 với số tiền 100.000.000 đồng trước khi chia tài sản chung.
- Bị đơn trình bày:
Bị đơn xác nhận ông Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3 là chị em ruột và thừa nhận căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số D đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 438172, số vào sổ cấp GCN: CS11278 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/6/2017 cho bà Nguyễn Thanh T3 và cấp cho ông Nguyễn Tất T. Căn nhà trên là nơi thờ cúng ông bà nội và là nơi bà T5 và bà T3 cùng sinh sống. Hiện bà T3, bà T5 không có nhà nên nhà này là để ở chứ không để bán.
Từ khi con của ông Nguyễn Tất T được 02 tuổi thì ông T cùng vợ và con của ông T về Trà Vinh sinh sống, ông T không lo làm ăn gây nợ nần, cờ bạc bê tha. Lúc hai vợ chồng ông T đi đã bảo ở đây không sống được đến lúc nợ nần về đây đòi bán nhà là không thể chấp nhận được, không nghĩ đến tình thân trong khi còn mẹ già đau yếu và hai người chị không chồng bệnh tật ốm đau.
Đối với yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà nêu trên của ông Nguyễn Tất T, bị đơn không đồng ý.
Bị đơn xác nhận giá trị sửa chữa nhà do bà T5 đã bỏ ra là 100.000.000 đồng và thống nhất với kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 28/3/2023.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thành T7 trình bày: Bà T7 cùng ý kiến với bị đơn, năm 2022 bà T7 đã bỏ ra số tiền 100.000.000 đồng để sửa chữa tài sản chung. Trong vụ án này bà không có yêu cầu độc lập.
- Bà Hồ Thị R trình bày:
Nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số D đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 531, tờ bản đồ số: 65, diện tích: 68.1 m² có nguồn gốc là của bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn T6. Năm 2017, bà và ông T6 đã tặng cho toàn bộ nhà, đất trên cho hai người con là Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3, đã thực hiện xong thủ tục sang tên.
Hiện bà đang ở căn nhà nêu trên, từ lúc tặng cho đến nay bà chỉ cư trú trong căn nhà nêu trên không đóng góp công sức sửa chữa, tôn tạo gì. Đối với tranh chấp của nguyên đơn ông Nguyễn Tất T và bị đơn bà Nguyễn Thanh T3 bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật vì đây là tài sản chung của ông Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3.
- Bà Phạm Thị Mỹ D: trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập bà D đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng bà D không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
4. Bản án sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tất T:
- Ông Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3 là đồng sở hữu đối với tài sản chung là căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trị giá tài sản chung của căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, 6.444.678.132 đồng.
- Phần trị giá sửa chữa tài sản chung bà Nguyễn Thanh T5 được nhận là số tiền 100.000.000 đồng.
- Xác nhận trị giá tài sản chung còn lại để phân chia là 6.344.678.132 đồng đồng.
- Chia trị giá tài sản chung còn lại cho 02 (Hai) đồng sở hữu theo tỷ lệ ông Nguyễn Tất T được hưởng 45% (tương đương số tiền 2.855.105.159 đồng, bà Nguyễn Thanh T3 được hưởng 55% giá trị tài sản chung tương đương số tiền là 3.489.572.972 đồng.
Đối với trường hợp bà Nguyễn Thanh T3 có nguyện vọng giữ lại tài sản chung thì bà T3 có nghĩa vụ thanh toán số tiền 2.855.105.159 đồng cho ông Nguyễn Tất T trong thời hạn 03 tháng.
Hết thời hạn trên đương sự được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đưa tài sản chung ra tổ chức bán đấu giá tài sản, đấu giá tài sản để phân chia. Số tiền thu được từ đấu giá tài sản được trừ phần giá trị do bà Nguyễn Thanh T5 đã bỏ tiền ra sửa chữa là 100.000.0000 đồng; số tiền còn lại được phân chia theo tỷ lệ ông Nguyễn Tất T được hưởng 45%, bà Nguyễn Thanh T3 được hưởng 55%.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 10/4/2024, bà Nguyễn Thanh T3 kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án.
5. Tại phiên toà phúc thẩm:
+ Nguyên đơn trình bày: Ông T cũng biết hiện tại mẹ ông đang ở trong nhà, việc tranh chấp có thể dẫn đến bán nhà nhưng do ông T đang nợ nần rất nhiều và đã phải lẩn trốn. Trước đây, ông T cũng có ý định chỉ nhận 2.000.000.000 đồng nhưng bà T3 cũng không đưa để ông T thanh toán nợ nần. Do đó, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
+ Bị đơn trình bày: Bà Hồ Thị R để con làm thủ tục pháp lý cho con đứng tên nhưng thực tế bà R và hai người con gái là bà T5 và bà T3 vẫn đang ở trong căn nhà trên. Ông T cùng vợ và con về Trà Vinh sinh sống từ lâu, ông T không lo làm ăn gây nợ nần, cờ bạc bê tha. Từ khi ký tên để đứng tên chủ quyền, ông T không về thăm gia đình, bà T3 là người trực tiếp chăm sóc mẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, gia đình không có khả năng hoàn tiền mà bán nhà thì bà R và các con không biết ở đâu.
+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về hình thức: đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thanh T3 trong thời hạn luật định. Quá trình tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ chứng cứ và có quyết định phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thanh T3 nộp trong thời hạn, đương sự đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm phù hợp quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, bản án sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CS 11279 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/6/2017 cho ông Nguyễn Tất T và Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 11278 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/6/2017 cho bà Nguyễn Thanh T3 có cơ sở xác định nhà đất trên thuộc quyền sở hữu chung của ông Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3.
Tuy nhiên, nguồn gốc tài sản trên thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn T6 và bà Hồ Thị R theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH11213 do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/4/2017. Đây là tài sản duy nhất vợ chồng ông T6, bà R sở hữu.
Từ khi ký hợp đồng tặng cho nhà ngày 12/5/2017 và được cấp giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở ngày 19/6/2017, ông Nguyễn Tất T chưa từng quản lý, sử dụng căn nhà trên. Ông Nguyễn Tất T không có công sức trong việc tạo lập, tôn tạo giá trị khối tài sản trên. Bà Hồ Thị R và hai người con gái của bà là bà T3, bà T5 ở trong căn nhà trên từ đó đến nay. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác nhận hiện nguyên đơn nợ nần, không có khả năng thanh toán và đang lẩn trốn. Như vậy, khả năng ông Nguyễn Tất T chăm sóc, phụng dưỡng mẹ là không thể thực hiện.
Mặc khác, tuy về pháp lý, nhà đất trên đã được tặng cho và đứng tên ông T, bà T3 nhưng bà R vẫn còn sống và đang cư trú trong căn nhà trên, bà R không có tài sản nào khác ngoài căn nhà đã làm thủ tục tặng cho hai con. Việc ông Nguyễn Tất T trong suốt thời gian qua, không thăm nom mẹ, gây nợ nần, khởi kiện tranh chấp tài sản do cha mẹ ông tạo lập, là nơi duy nhất mẹ ông đang sinh sống bất chấp việc mẹ và hai chị của ông phải bán nhà để hoàn tiền cho ông, không có nơi cư trú là trái những quy tắc ứng xử đạo đức đối với cha mẹ.
Bà T3 ngoài việc có công sức nhiều hơn trong quá trình giữ gìn, tôn tạo tài chung và phụng dưỡng mẹ, bà còn là người có khả năng, điều kiện tốt nhất tiếp tục chăm sóc bà R nên cần thiết chia công sức cho bà T3 nhiều hơn nhằm tạo điều kiện để bà T3 tìm nơi ở mới, ổn định cuộc sống, tiếp tục lo lắng, chăm sóc cho bà R.
Căn cứ những nhận định trên nên sửa án sơ thẩm, chia ông Nguyễn Tất T được hưởng theo tỷ lệ 20%, bà Nguyễn Thanh T3 80% giá trị nhà đất số D đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự phúc thẩm: do sửa án nên người kháng cáo không phải chịu án phí.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thanh T3.
- Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thanh T3. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tất T.
- Xác định ông Nguyễn Tất T và bà Nguyễn Thanh T3 là đồng sở hữu nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 11279 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/6/2017 cho ông Nguyễn Tất T và Giấy chứng nhận QSDĐ, QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 11278 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 19/6/2017 cho bà Nguyễn Thanh T3.
- Xác định nhà đất trên trị giá 6.444.678.132 đồng.
- Phần trị giá sửa chữa tài sản chung bà Nguyễn Thanh T5 được nhận số tiền là 100.000.000 đồng.
- Xác nhận trị giá tài sản chung để phân chia là 6.344.678.132 đồng. Chia trị giá tài sản chung theo tỷ lệ: ông Nguyễn Tất T được hưởng 20%, bà Nguyễn Thanh T3 được hưởng 80%.
Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thanh T3 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Tất T số tiền 1.268.935.626 đồng. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ giao tiền, bà T3 được trọn quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà đất số D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và được tự liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành thủ tục xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.
Hết thời hạn trên, nếu bà Nguyễn Thanh T3 không thực hiện việc thanh toán cho ông Nguyễn Tất T thì một trong các đương sự được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản để thi hành án. Số tiền phát mãi sau khi trừ các khoản chi phí, lệ phí, hoàn trả phần giá trị sửa chữa cho bà Nguyễn Thanh T5 100.000.0000 đồng, số tiền còn lại được phân chia theo tỷ lệ: ông Nguyễn Tất T được hưởng 20%; bà Nguyễn Thanh T3 được nhận 80%.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thanh T3 có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Tất T số tiền 6.597.000 đồng.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Tất T phải chịu 50.068.069 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/00314961 ngày 25/10/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Tất T còn phải nộp số tiền 32.068.069 đồng.
- Bà Nguyễn Thanh T3 phải chịu 113.075.743 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thanh T3 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thanh T3 số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0019065 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Điệp |
Bản án số 670/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia tài sản chung
- Số bản án: 670/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Tất T khởi kiện Tranh chấp chia tài sản chung với bà Nguyễn Thanh T
