|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST Ngày 31/7/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Bình
- Bà Nguyễn Ngọc Cúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa:
Bà Thái Thị Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 307/2024/TLST – HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Như N, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1993.
Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
(Bà N và ông T có đơn xin vắng mặt)
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T chung sống với nhau từ năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì
phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến thường xuyên cãi vã, không hạnh phúc. Hai vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, hiện bà và ông T sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Nay bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng Q, sinh ngày 06/3/2015. Ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Lời khai của bị đơn ông T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông T và và bà Nguyễn Thị Như N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang, và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 19 tháng 03 năm 2014. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, bất đồng quan điểm, không có hạnh phúc. Chúng tôi đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay tôi nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Tôi đã không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị Như N nên bà N xin ly hôn tôi đồng ý.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng Q, sinh ngày 06/3/2015. Ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con thì ông đồng ý.
Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Nguyễn Thị Như N được ly hôn với Nguyễn Hữu T. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng Q, sinh ngày 06/3/2015 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; do bà N không yêu cầu nên tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn trình bày nợ chung tự thỏa thuận, tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đương sự không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Như N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Hữu T, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo địa chỉ trong đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ ông T cung cấp hiện ông T đang sinh sống tại địa chỉ: Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
[1.3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang và được cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 13, ngày 19 tháng 03 năm 2014 nên áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng bà N và ông T thống nhất trình bày về quan hệ hôn nhân hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay hai vợ chồng đã ly thân, không ai quan tâm chăm sóc cho ai nên
tình cảm vợ chồng vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bà N và ông T đều yêu cầu được giải quyết ly hôn. Như vậy, lời trình bày của bà N và ông T phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét chấp nhận yêu cầu của bà N xin ly hôn với ông T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Bà N và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng Q, sinh ngày 06/3/2015. Ly hôn bà N và ông T đều thống nhất giao cháu Q cho bà N nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử giao con chung cho bà N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Ông T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án bà N và ông T khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử quyết định không xem xét giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản khi ly hôn.
[2.4] Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án bà N và ông T khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử quyết định không xem xét giải quyết đối với yêu cầu nợ chung.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà N chịu án phí hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 8 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như N về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Hữu T.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T.
1.2. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng Q, sinh ngày 06/3/2015 cho bà N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ông T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trợ. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
1.3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Như N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009689 ngày 28/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Bà N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuấn |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N
