|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đức Bình;
Ông Nguyễn Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 122/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị A, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị A trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 03-4-2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do vợ chồng khác nhau về quan điểm sống, tính tình không hợp; vợ chồng ít quan tâm đến nhau, dẫn đến cuộc sống hôn nhân thường xuyên căng thẳng, xô xát, cãi chửi nhau. Mặc dù gia đình đã nhiều lần hoà giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ đầu năm 2022 đến nay, chị và anh T đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh T. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Vũ Duy K, sinh ngày 09-7-2014 và Nguyễn Vũ Duy A1, sinh ngày 30-4-2021; ly hôn, chị nhận nuôi con Nguyễn Vũ Duy A1, đồng ý để anh T nuôi con Nguyễn Vũ Duy K. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung. Chị hiện đang làm lao động tự do, thu nhập đảm bảo việc nuôi 01 con.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn nhưng anh T không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tại bản tự khai anh T xác nhận các thông tin về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, ly thân và con chung như chị A1 trình bày; anh đồng ý ly hôn chị A1 và nhận nuôi con Duy K; đề nghị giao con Duy A1 cho chị A1 nuôi dưỡng vì cháu còn nhỏ; không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung.
Tòa án đã thu thập chứng cứ đối với gia đình, chính quyền địa phương về quan hệ hôn nhân giữa chị A1 và anh T, thể hiện: Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị làm ăn kinh tế gặp nhiều khó khăn, dẫn đến nợ nần; ngoài ra tính tình vợ chồng không hợp nhau, khác nhau về quan điểm sống nên thường xuyên cãi chửi nhau; gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay, chị A1 xin ly hôn, đề nghị Tòa án hoà giải cho anh chị đoàn tụ, trường hợp không được thì giải quyết theo nguyện vọng của anh chị; giao con Nguyễn Vũ Duy A1 cho chị Anh n vì cháu còn nhỏ, mẹ nuôi sẽ đảm bảo hơn; giao con Nguyễn Vũ Duy K cho anh T nuôi, cháu cũng có nguyện vọng được ở với bố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt theo các quyết định của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về hôn quan hệ nhân: Mâu thuẫn tình cảm giữa chị A1 và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 447, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A1 được ly hôn anh T; giao con chung Nguyễn Vũ Duy Anh cho chị A1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Vũ Duy K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị A1 là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị A1, anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị A khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Thanh T tại Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng. Bị đơn là anh T cư trú tại khu C, thị trấn T, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị A và anh T.
- Về quan hệ hôn nhân:
[3] Chị Vũ Thị A và anh Nguyễn Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 03-4-2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Chị A trình bày phù hợp với lời khai của anh T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã làm rõ: Sau khi kết hôn, anh chị sống chung tại khu C thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, khác nhau về quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xô xát, cãi chửi nhau, một phần do làm ăn kinh tế gặp nhiều khó khăn, dẫn đến nợ nần. Từ đầu năm 2022 đến nay, anh chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Chị anh và anh T đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn. Xét thấy: Chị A và anh T đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị A và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị A được ly hôn anh T.
[5] Về con chung: Chị A và anh T có 02 con chung là Nguyễn Vũ Duy K, sinh ngày 09-7-2014 và Nguyễn Vũ Duy A1, sinh ngày 30-4-2021. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau. Để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con, nguyện vọng của con và thoả thuận của cha mẹ khi ly hôn nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Vũ Duy A1 cho chị A1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Vũ Duy K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; thời hạn nuôi con kể từ ngày 30-9-2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị A1 và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung: Chị A1 và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Chị A1 là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Chị A1 và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.
- Về con chung: Chị Vũ Thị A trực tiếp nuôi con Nguyễn Vũ Duy A1, sinh ngày 30-4-2021; anh Nguyễn Thanh T trực tiếp nuôi con Nguyễn Vũ Duy K, sinh ngày 09-7-2014. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 30-9-2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét về việc cấp dưỡng cho con do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị A và anh Nguyễn Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Vũ Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009076 ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị A và anh Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
