TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: /2024/HS-ST Ngày: 30-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ma Quốc Thể
2. Ông Nguyễn Minh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 17/6/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị N, sinh ngày 17/10/1979 tại huyện S, tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bình T (đã chết) và bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1936; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Có chồng Đỗ Văn Q, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2003;
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
2. Hà Văn M, sinh ngày 08/10/1972 tại huyện T, tỉnh V; Nơi cư trú: Tổ dân phố Ẩ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hà Văn T2, sinh năm 1941 và bà Vũ Thị S (đã chết); Anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ tư; Có vợ Đỗ Thị D, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2002;
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Những người làm chứng:
- Chị Lý Thị T3, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh T (Vắng mặt).
- Anh Lê Trọng T4, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện S, tỉnh T (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện S, tỉnh T (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/01/2021, Hà Văn M ký hợp đồng làm đại lý xổ số với Công ty TNHH Một thành viên X địa điểm mở bán tại nhà riêng của M thuộc thị trấn Đ, huyện T, tỉnh V. Quá trình bán xổ số kiến thiết, có nhiều khách hỏi mua số lô, số đề trái phép nên M nảy sinh ý định bán số lô, số đề trái phép cho khách có nhu cầu.
Khoảng cuối năm 2023, M quen biết với Nguyễn Thị N. Do không có việc làm ổn định nên N nảy sinh ý định mua bán số lô, số đề trái phép thông qua việc nhắn tin điện thoại và tài khoản zalo cho khách có nhu cầu sau đó chuyển bảng lô, đề cho M. Mạc bán số lô cho N với giá 21.800đồng/điểm, số đề 75% tiền bán cho khách (tức là 1000 đồng lấy của Nụ 750 đồng). Nụ bán số đề theo tỷ lệ 1 ăn 70 (nghĩa là mua 1.000 đồng tiền đề, nếu trúng thưởng sẽ được 70.000 đồng); số lô bán với giá từ 21.800 đồng đến 22.000 đồng/01 điểm, căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở cùng ngày làm căn cứ trả thưởng, so sánh số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì trúng thưởng, đối với số lô trùng với 02 số cuối của 27 giải thì trúng thưởng, số lô trúng thưởng sẽ được 80.000 đồng/01 điểm; đối với số lô xiên 02 thì 1.000 đồng sẽ được 10.000 đồng, lô xiên 3 thì 1.000 đồng được 40.000 đồng.
Trong 02 ngày 02/12/2023 và ngày 26/02/2024, Nguyễn Thị N đã bán số lô, số đề trái phép cho Lý Thị T3, Lê Trọng T4, cụ thể như sau:
- Ngày 02/12/2023, Lý Thị T3 nhắn tin qua Z cho Nguyễn Thị N, để mua số lô, đề trái phép, N đồng ý, cụ thể: Số lô 99 =50 điểm x 22.000 đồng/ điểm = 1.100.000đồng. T3 đã thanh toán tiền cho N. Sau đó, N đã chuyển bảng lô cho M và thanh toán tiền cho M. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào ngày 02/12/2023 thì T3 không trúng thưởng.
- Ngày 26/02/2024, Lê Trọng T4 nhắn tin qua zalo cho N để mua số lô, số đề trái phép, N đồng ý, cụ thể:
- + Số lô 01=100 điểm x 22.000 đồng/điểm = 2.200.000 đồng.
- + Số lô xiên 2: cặp số 01, 32 với giá 1.000.000 đồng.
- + Số lô xiên 3: cặp số 01, 32, 54 với giá 500.000 đồng.
- + Số đề 12 = 300.000 đồng.
- + Số đề đuôi 2 gồm 10 số (02, 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72, 82, 92), mỗi số 50.000 đồng, tổng là 500.000 đồng.
Tổng số tiền Tuyến mua số lô, số đề của N là 4.500.000 đồng. Tuy nhiên, N chỉ tính là 4.040.000 đồng. Tuyến chưa thanh toán tiền cho N.
Cùng ngày 26/02/2024, Nguyễn Tuấn A nhắn tin qua zalo cho Đỗ Văn Q1, sinh năm 1976 (chồng của N) mua số lô trái phép, sau đó Q1 lại chuyển cho N, cụ thể:
- + Số lô 39, 90, mỗi số 10 điểm; Số lô 42 = 20 điểm; Số lô 88 = 60 điểm, tổng 100 điểm lô x 22.000 đồng/01 điểm = 2.200.000 đồng. Tuấn A mua của N thông qua Q1 2.200.000 đồng số lô. Tuấn A chưa thanh toán tiền cho N.
Tổng số tiền N bán số lô, đề trái phép cho Nguyễn Tuấn A và Lê Trọng T4 là 6.240.000đồng.
Ngoài ra, trong ngày 26/02/2024, Nguyễn Thị N có hành vi bán số lô, đề trái phép cho một số đối tượng khác nhưng không biết là ai và ở đâu nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Sau đó, Nguyễn Thị N đã chuyển bảng lô, đề trái phép cho Hà Văn M qua tài khoản Zalo, cụ thể:
- + Các số đề 07, 70, 09, 90, 60, 06, 04, 40, 80, 00, 99, 96, 69, 29, 92, 19, 91, 49, 94 mỗi số 30.000 đồng, tổng là 19 số x 30.000 đồng = 570.000 đồng.
- + Số đề 12 = 300.000 đồng; số 02 = 100.000 đồng; số 20 = 100.000 đồng.
- + Các số đề 29, 92 mỗi số 50.000 đồng, tổng là 100.000 đồng.
- + Các số đề có đuôi 2 gồm 10 số (02, 12, 22, 32, 42, 52, 62, 72, 82, 92) mỗi số 50.000 đồng, tổng là 10 số x 50.000 đồng = 500.000 đồng.
- + Số lô 42, 20, 30 mỗi số 20 điểm, tổng 60 điểm x 21.800 đồng/ điểm =1.308.000 đồng.
- + Số lô 93, 39, 90 mỗi số 10 điểm, tổng 30 điểm x 21.800 đồng/điểm =654.000 đồng.
- + Số lô 88 x 60 điểm x 21.800đồng = 1.308.000 đồng.
- + Số lô 01 x 100 điểm x 21.800đồng = 2.180.000 đồng.
- + Số lô xiên 2: 01 - 32 = 1.000.000 đồng;
- + Số lô xiên 3: 01-32-54 = 500.000 đồng.
- + Số lô 67, 76 mỗi số 20 điểm, tổng 40 điểm x 21.800đồng = 732.000đồng.
- + Số lô 58, 85, 59, 95 mỗi số 15 điểm, tổng 60 điểm x 21.800đồng = 1.308.000đồng.
- + Số lô 15, 51 mỗi số 5điểm, tổng 10 điểm x 21.800đồng = 218.000 đồng.
- + Số đề 79, 97, 57, 75, 24, 42, 47, 74 mỗi số 30.000 đồng, tổng là 08 số x 30.000đồng = 240.000 đồng x 75% = 180.000 đồng.
- + Số lô 17, 71, 58, 85 mỗi số 5 điểm, tổng là 20 điểm x 21.800 đồng/01 điểm = 436.000 đồng.
Như vậy, ngày 26/02/2024, N mua của M 20 số lô, với tổng 380 điểm x 21.800 đồng/điểm = 8.284.000 đồng; mua 02 số lô xiên 1.500.000 đồng x 75% = 1.125.000 đồng; mua 42 số đề, với tổng số tiền là 1.910.000 đồng x 75% = 1.432.500 đồng. Tổng số tiền là 10.841.500 đồng. Nụ chưa thanh toán tiền cho M.
Cáo trạng số 65/CT-VKSSD ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Nguyễn Thị N, Hà Văn M về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thị N, Hà Văn M phạm tội “Đánh bạc”.
- * Về hình phạt chính:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo Hà Văn M từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị N từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
- * Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã bị đề nghị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, truy thu số tiền do các bị cáo thu lời bất chính, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc xem xét hành vi của các bị cáo.
Các bị cáo N, Mạc đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì tin vào sự may rủi, nhằm thu lời bất chính, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự của địa phương. Tổng số tiền N, Mạc bán số lô, số đề trái phép đã xác định được là 10.841.500 đồng lớn hơn định lượng tối thiểu (là 5.000.000đ) được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng lời khai nhận tội của chính các bị cáo và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/02/2024, Nguyễn Thị N đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho Lê Trọng T4 và Nguyễn Tuấn A với tổng số tiền là 6.240.000 đồng. Trong đó:
- Bán cho Lê Trọng T4 các số lô, số đề trái phép với số tiền là 4.040.000 đồng.
- Bán cho Nguyễn Tuấn A các số lô trái phép với số tiền là 2.200.000 đồng.
Sau khi bán số lô, số đề trái phép cho Lê Trọng T4, Nguyễn Tuấn A và một số đối tượng khác, Nguyễn Thị N đã chuyển các số lô, số đề cho Hà Văn M với tổng số tiền là 10.841.500 đồng.
Trong vụ án này các bị cáo cùng tham gia đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép, phạm tội với tính chất là đồng phạm giản đơn, bột phát, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ. Hội đồng xét xử nhận thấy trong vụ án này, bị cáo M là người cầm bảng lô, đề, bị cáo N là người thực hành tích cực. Do vậy, vai trò của bị cáo M được xác định là cao hơn bị cáo N.
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[2.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[2.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, cả hai bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; cả hai bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo Hà Văn M có ông nội là Hà Hồng M1 được Tổ quốc ghi công là liệt sỹ, tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với từng bị cáo để quyết định hình phạt.
[3]. Về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[3.1]. Hình phạt chính:
Xét toàn diện căn cứ để quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có sơ sở chấp nhận. Bởi lẽ: Tuy tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo M cao hơn bị cáo N nhưng bị cáo M có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo N. Do vậy Viện kiểm sát đề nghị xử phạt hai bị cáo mức án ngang nhau là phù hợp. Cả hai bị cáo M, N đều có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mặt khác, các bị cáo đều phạm tội vì mục đích vụ lợi, tin vào sự may rủi, nhằm thu lời bất chính. Do vậy việc chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo Hà Văn M, Nguyễn Thị N là thể hiện hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa; phù hợp với tinh thần “Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ...” trong chính sách cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, đồng thời vẫn đảm bảo mục đích trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm của hình phạt.
[3.2]. Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với cả hai bị cáo.
[4]. Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[5]. Về tư cách tham gia tố tụng; xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo bản án và các vấn đề khác.
* Về tư cách tham gia tố tụng: Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử tư cách tham gia tố tụng của chị Lý Thị T3 và các anh Lê Trọng T4, Nguyễn Tuấn A được xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, căn cứ vào toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa có thể xác định được chị T3, và các anh T4, Tuấn A không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà chỉ là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xác định tư cách tố tụng của chị Lý Thị T3 và các anh Lê Trọng T4, Nguyễn Tuấn A là người làm chứng.
* Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, vỏ màu xanh, có nhiều vết nứt, vỡ, bên trong có 01 sim; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim V có số thuê bao 0971354504.
Xét thấy chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim Viettel có số thuê bao 0971354504 bị cáo N không sử dụng thường xuyên vào việc phạm tội mà dùng làm phương tiện liên lạc nên cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án dân sự. Đối với chiếc điện thoại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, vỏ màu xanh, có nhiều vết nứt, vỡ, bên trong có 01 sim, bị cáo sử dụng đề bán số lô, số đề cần tịch thu sung vào quỹ nhà nước.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được, bị cáo N chuyển cho bị cáo M 1.100.000 đồng; Bị cáo N được bị cáo M trả công 10.000 đồng. Xét thấy đây là tiền do các bị cáo thu lời bất chính, căn cứ theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
* Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
* Về các vấn đề khác: Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề trái phép của Nguyễn Thị N vào ngày 02/12/2023 do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đồng, trước đó N chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 29/3/2024, Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 90 bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 2.750.000đồng. Cùng ngày, N đã chấp hành xong; Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề trái phép của Lê Trọng T4, Nguyễn Tuấn A, Lý Thị T3 và Đỗ Văn Q dưới 5.000.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 29/3/2024, Công an huyện S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87, 88, 89 và 91 bằng hình thức phạt tiền. Cùng ngày, Lê Trọng T4, Nguyễn Tuấn A, Lý Thị T3 và Đỗ Văn Q đã chấp hành xong. Còn một số đối tượng mua số lô, số đề trái phép của N, không xác định được là ai, nên không có căn cứ xử lý; Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề trái phép của Hà Văn M vào ngày 02/12/2023, số tiền dưới 5.000.000 đồng chưa đủ định lượng xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Văn M;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị N;
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Hà Văn M phạm tội: “Đánh bạc”.
1. Về hình phạt:
- Phạt tiền bị cáo Hà Văn M 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung vào quỹ nhà nước.
- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị N 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung vào quỹ nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng và tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm:
- Truy thu của bị cáo Hà Văn M 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) nộp vào vào ngân sách nhà nước.
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị N 10.000₫ (Mười nghìn đồng) nộp vào vào ngân sách nhà nước.
- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, vỏ màu xanh, có nhiều vết nứt vỡ, có số IMEI 1: 865613059183735; IMEI 2: 865613059183727; bên trong có 01 sim, trên sim có dãy số 8984048000054039231 (Không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong máy) sung vào quỹ nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, vỏ màu vàng; bên trong lắp sim V có số thuê bao 0971354504, trên sim có dãy số 8984048000060602247 (Không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong máy), nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án dân sự;
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện S và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương lập ngày 11/6/2024).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Các bị cáo Hà Văn M, Nguyễn Thị N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo Hà Văn M, Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Ma Quốc Thể - Nguyễn Minh Hùng | Phạm Thị Thùy Trâm |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thùy Trâm |
Bản án số /2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA HSST Hà Văn M + N- 321
