Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lưu Văn Đê;
  • Ông Phạm Văn Lịch.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1994 tại xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Chi cục Thuế huyện N; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bội H, sinh năm 1955 và bà Đào Thị Ánh T, sinh năm 1963; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến ngày 21/6/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

- Bị hại: Chị Đinh Thị Huyền T1, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Bội H, sinh năm 1955; địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu nên Nguyễn Ngọc D nảy sinh ý định đi đến các cửa hàng mua bán điện thoại di động giả vờ hỏi mua điện thoại, khi được chủ tài sản đưa cho xem điện thoại thì nhanh chóng tẩu thoát để mang đi bán lấy tiền. Khoảng 17 giờ ngày 21/4/2024, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 18Z1 - 4469 đi từ nhà ở Tổ dân phố S, thị trấn N, huyện G theo Quốc lộ C đến Quốc lộ B sang địa bàn huyện H. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến khu vực Tổ dân phố số C, thị trấn Y, huyện H thì phát hiện cửa hàng điện thoại “Yên Định M” do chị Đinh Thị Huyền T1 làm chủ đang vắng khách nên D điều khiển xe đi vào đường dong phía Bắc Quốc lộ B đối diện với cửa hàng rồi dựng xe phía sau một chiếc ô tô tải đỗ ven đường, cách cổng làng T, thị trấn Y khoảng 10m, cách cửa hàng “Yên Định M” khoảng 40m. Sau đó, D đeo khẩu trang đi bộ vào trong cửa hàng điện thoại gặp chị T1 đang ngồi tại góc phía Đông cạnh 01 chiếc bàn gỗ, trên mặt bàn bày bán các loại điện thoại. D vào ngồi xuống ghế đối diện với chị T1, cách cửa ra vào khoảng 2,5m và hỏi chị T1 “Cho anh mua một con Iphone 13 hoặc 14”, chị T1 chỉ cho D chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, vỏ màu trắng đã qua sử dụng đang trưng bày trên mặt bàn. D cầm chiếc điện thoại Iphone 13 xem và nói với T1 “Cho xem chiếc điện thoại Iphone 14”, chị T1 lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, vỏ màu đen đã qua sử dụng đưa cho D xem. D cầm cả 02 chiếc điện thoại Iphone 13 và Iphone 14 lên xem, giả vờ kiểm tra và quan sát chị T1. Khoảng 05 phút sau, D thấy trước cửa hàng không có người qua lại, chị T1 đang ngồi đối diện, cách D khoảng 01m, đang cúi xuống sử dụng điện thoại, không để ý quan sát. D cầm 02 chiếc điện thoại trên tay trái bỏ chạy ra ngoài, qua đường Q, đến vị trí dựng xe mô tô của mình rồi lên xe nổ máy, nhanh chóng tẩu thoát về nhà, cất giấu điện thoại trong tủ quần áo trong phòng ngủ của D. Chị T1 hô “Cướp cướp” và đuổi theo D nhưng không đuổi kịp nên đến Công an thị T2, huyện H để trình báo. Đến chiều ngày 22/4/2024, Nguyễn Ngọc D nhận thức hành vi phạm tội của mình nên đã đến Công an huyện H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tự giác giao nộp 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 và Iphone 14. Ngoài ra còn tạm giữ của D 01 quần dài màu đen nhãn hiệu Adidas, 01 áo phông màu xám nhãn hiệu Anta Run, 01 đôi dép lê màu đen có chữ “Asiad”, 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đỏ - trắng có chữ “xe máy xe đạp điện Vượng Tính” và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 18Z1 - 4469.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 vỏ màu trắng đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trên thị trường là 11.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 vỏ màu đen đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá 12.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng). Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại các tài sản trên cho bị hại là chị Đinh Thị Huyền T1, sau khi nhận lại tài sản, chị T1 không có yêu cầu gì về phần dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKS-HH ngày 05/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “ Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Ngọc D từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho ông Nguyễn Bội H 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 18Z1- 4469 và 01 mũ bảo hiểm; tịch thu cho tiêu hủy 01 quần dài màu đen nhãn hiệu Adidas, 01 áo phông màu xám nhãn hiệu Anta Run, 01 đôi dép lê màu đen có chữ “Asiad” do không còn giá trị và bị cáo không có yêu cầu nhận lại.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận tội, hứa sửa chữa lỗi lầm của bản thân và xin được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, Nguyễn Ngọc D đến cửa hàng điện thoại “Yên Định M” của chị Đinh Thị Huyền T1 ở Tổ dân phố số C, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định giả vờ mua điện thoại. Sau khi chị T1 đưa cho D xem 02 chiếc điện thoại, lợi dụng chị T1 không để ý, D đã chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 trị giá 11.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 14 trị giá 12.000.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng trị giá tài sản D đã chiếm đoạt là 23.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 171. Tội Cướp giật tài sản của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an chung. Bị cáo là người có thể chất và tinh thần bình thường, nhận thức được hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng cần tiền ăn tiêu cá nhân đã cố ý phạm tội. Do đó phải xử lý theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối lỗi; ngay sau khi phạm tội đã tự giác ra đầu thú; đã trả lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt cho bị hại, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bị cáo có bố đẻ là người có công với nước được Nhà nước tặng thưởng nhiều Bằng khen nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có ý thức tự cải tạo, hoàn cảnh gia đình có con nhỏ cần chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, tu dưỡng thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, có con nhỏ đang phải nuôi dưỡng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu là chị Đinh Thị Huyền T1, chị T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 18Z1 - 4469 và 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu đỏ - trắng có chữ “xe máy xe đạp điện Vượng Tính” bị cáo đã sử dụng khi phạm tội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô và chiếc mũ bảo hiểm trên là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Bội H là bố đẻ bị cáo, ông H không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Bội Huỳnh.

Đối với 01 quần dài màu đen nhãn hiệu Adidas, 01 áo phông màu xám nhãn hiệu Anta Run, 01 đôi dép lê màu đen có chữ “Asiad” đã thu của Nguyễn Ngọc D. Các tài sản trên bị cáo đã sử dụng tại thời điểm phạm tội, tại phiên tòa bị cáo xác định không có giá trị và không có yêu cầu nhận lại. Do đó cần tịch thu cho tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “ Cướp giật tài sản”.

    Xử phạt Nguyễn Ngọc D 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng, tính từ ngày 30 tháng 7 năm 2024. (Bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến ngày 21/6/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Ngọc D cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” áp dụng đối với Nguyễn Ngọc D theo Quyết định về việc Bảo lĩnh số 38/BL-TA ngày 08/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu cho tiêu hủy 01 quần dài màu đen nhãn hiệu Adidas, 01 áo phông màu xám nhãn hiệu Anta Run, 01 đôi dép lê màu đen có chữ “Asiad”.

    Trả cho ông Nguyễn Bội H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 18Z1-4469 và 01 mũ bảo hiểm.

    Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

    Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - UBND thị trấn N, huyện G;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phạm Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc D - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger