Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/DS-ST

Ngày: 30-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Vũ

Bà Phạm Thị Em

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Hiền Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 194/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXX-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 197/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V. Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy: Ông Đỗ Thành T – Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý.

Ông Đỗ Thành T ủy quyền cho ông Trương Võ Văn Q – Chuyên viên xử lý nợ, địa chỉ: Số A H, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang tham gia tố tụng.

Bị đơn: Ông Đỗ Minh N, sinh năm 1973, địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V là ông Trương Võ Văn Q trình bày:

Ngày 07/11/2017 Ngân hàng thương mại cổ phần V có ký hợp đồng cho vay số LN1710300295310/VTH/HĐTD với ông Đỗ Minh N, mục đích vay mua ôtô nhãn hiệu TOYOTA mới 100%, số tiền vay 451.000.000 đồng, thời hạn vay 83 tháng (từ ngày 07/11/2017 đến ngày 07/10/2024); lãi suất giải ngân 8,4%năm; cố định trong 03 tháng đầu tiên, sau đó điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần với biên độ 5,5%năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là 01 xe ôtô nhãn hiệu TOYOTA, loại VIOS E, số khung 9F35H5024139, số máy 2NRX217141, biển kiểm soát 71A-043.57 do ông Đỗ Minh N đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008899 do Phòng C công an tỉnh B cấp ngày 06/11/2017, đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 07/11/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngày 07/8/2020, ông N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng thương mại cổ phần V và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần V yêu cầu ông Đỗ Minh N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ tính đến ngày 30/7/2024 là 502.296.654 đồng (trong đó nợ gốc là 277.084.130 đồng + nợ lãi là 225.212.524 đồng) và Ngân hàng yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 31/7/2024 theo lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay đến khi ông Đỗ Minh N trả tất nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp ông Đỗ Minh N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại số VIOS E, số khung 9F35H5024139, số máy 2NRX217141, biển kiểm soát 71A-043.57 do ông Đỗ Minh N đứng tên để thu hồi nợ theo quy định. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán thì ông Đỗ Minh N có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Đỗ Minh N vắng mặt (không có mặt tại địa phương nơi cư trú) nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn, cũng như bị đơn không có ý kiến phản hồi gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sựBị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông N thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 502.296.654 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông Đỗ Minh N không thanh toán theo yêu cầu của Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại số VIOS E, số khung 9F35H5024139, số máy 2NRX217141, biển kiểm soát 71A-043.57 do ông Đỗ Minh N đứng tên để thu hồi nợ theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Đỗ Minh Nghĩa 1 tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Đỗ Minh N có hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Tại Biên bản xác minh ngày 12/6/2024 của Công an xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre xác định: Hiện nay ông Đỗ Minh N có đăng ký hộ khẩu tại số C, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, do đó đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông Đỗ Minh N.

Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQHĐTP05/5/2017 của Tòa án tối cao quy định: “a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;”.

Ông N đã bỏ đi khỏi địa phương, thay đổi nơi cư trú mới mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới nên theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án tối cao quy định thì được coi là cố tình giấu địa chỉ, vì vậy vụ án sẽ được xét xử theo thủ tục chung.

Bị đơn ông N đã rời bỏ địa phương hiện tại không có mặt tại địa phương, nên Toà án đã thực hiện việc xác minh, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ để tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ nhưng vẫn đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp cho đương sự theo quy định pháp luật.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:

Hợp đồng cho vay số LN1710300295310/VTH/HĐTD được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Đỗ Minh N trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đỗ Minh N đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng mà các bên đã ký kết, tính đến ngày đến ngày 30/7/2024 là 502.296.654 đồng (trong đó nợ gốc là 277.084.130 đồng + nợ lãi là 225.212.524 đồng). Do ông N vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng nên Ngân hàng thương mại cổ phần V đã khởi kiện tại Tòa án. Việc khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V yêu cầu Tòa án buộc ông N phải trả số tiền còn nợ nói trên là phù hợp với Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Đối với yêu cầu tính lãi: Đối với khoản tiền lãi mà Ngân hàng tạm tính 30/7/2024 nợ lãi là 225.212.524 đồng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ông N đã đồng ý ký kết hợp đồng vay của Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả tiền vay và tiền lãi vay theo hợp đồng đã được ký kết. Việc ông N chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu ông N trả tiền còn nợ gồm vốn và lãi theo hợp đồng đã ký kết là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại các Điều 99 và Điều 100 của Luật tổ chức tín dụng và các pháp luật khác có liên quan.

Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 31/7/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng đến khi ông N thanh toán xong khoản nợ.

[3.3] Xét tài sản thế chấp của ông N: Trong quá trình vay, ông N có thế chấp cho Ngân hàng xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại số VIOS E, số khung 9F35H5024139, số máy 2NRX217141, biển kiểm soát 71A-043.57 do ông Đỗ Minh N đứng tên để đảm bảo nợ vay theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1710300295310/VTH/HĐTCSP ngày 07/11/2017. Căn cứ công văn số 426/CAH ngày 19/6/2024 của Công an huyện C, tỉnh Bến Tre thể hiện qua kiểm tra thông tin trên phần mềm hệ thống đăng lý xe của Cục C1 – Bộ C2 thể hiện đến thời điểm hiện tại chủ xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại số VIOS E, số khung 9F35H5024139, số máy 2NRX217141, biển kiểm soát 71A-043.57 là ông Đỗ Minh N, sinh năm 1973, địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Xét thấy, hợp đồng thế chấp giữa các bên tuân thủ đúng quy định tại Điều 317 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên. Do đó, trong trường hợp ông N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán thì ông Đỗ Minh N có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Đỗ Minh N chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.091.866 đồng.

[5] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 278 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng các Điều 40, 299, 317, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng các Điều 99, 100 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Áp dụng Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Áp dụng Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao;
  • - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bị đơn ông Đỗ Minh N. Buộc ông Đỗ Minh N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ tính đến ngày 30/7/2024 là 502.296.654 đồng (trong đó nợ gốc là 277.084.130 đồng + nợ lãi là 225.212.524 đồng).
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Trường hợp ông Đỗ Minh N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại số VIOS E, số khung 9F35H5024139, số máy 2NRX217141, biển kiểm soát 71A-043.57 do ông Đỗ Minh N đứng tên để thu hồi nợ theo quy định. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán thì ông Đỗ Minh N có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • 4.1 Buộc bị đơn ông Đỗ Minh N phải nộp số tiền 24.091.866 đồng.
    • 4.2 Ngân hàng thương mại cổ phần V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 13.174.000 đồng theo biên lai thu số 0000411 ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
  5. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 67/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger