|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 30 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Đỗ Thị Thu Hà
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoàn - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện T, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 5 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Vũ Trọng B; sinh ngày: 09 tháng 6 năm 1993. Giới tính: Nam. Tại Thái Bình. Nơi cư trú: thôn B Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Vũ Đình H (đã chết); con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1955.
Nhân thân: Tháng 3/2018 tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng quân tại tiểu đoàn I, trung đoàn 43, sư đoàn C1, quân khu C tỉnh Quảng Ninh. Tháng 01/2020 Vũ Trọng B xuất ngũ.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/02/2024 đến ngày 09/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969.
- Anh Lê Văn T2, sinh năm 1991. Đều trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, ( Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/02/2024, Vũ Trọng B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B6-656.44 đi từ nhà đến khu vực cầu T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi Ba mua được 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, Ba không biết tên địa chỉ của người này. Sau khi mua được ma túy, Ba bỏ gói ma túy vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Khi B đi đến trục đường ĐT 456 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện T thì bị tổ công tác Công an tỉnh T phối hợp với Công an huyện T, Công an xã T đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện có biểu hiện nghi vấn, yêu cầu Ba dừng lại kiểm tra. Tại đây trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn T1 và anh Lê Văn T2. Ba tự giác lấy trong túi áo khoác bên trái 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt giao nộp cho tổ công tác. Ba khai đó là ma túy đá vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng đồng thời đưa Ba cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ba không quản lý và thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 192/KL-KTHS ngày 08/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1568 gam (không phẩy một nghìn năm trăm sáu tám gam).
Bản cáo trạng số: 63/CT-VKSTTTB ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình và tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy thực hiện quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Vũ Trọng B như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng B phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- * Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Trọng B từ 01 năm 3 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06 tháng 02 năm 2024. Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử lý theo quy định của pháp luật.
- * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
2
Bị cáo không có ý kiến và tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trục đường ĐT 456 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Vũ Trọng B; sinh ngày 09 tháng 6 năm 1993, nơi cư trú thôn B, Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có hành vi tàng trữ trái phép 0,1568 gam ma túy, loại Methamphetamine tại túi áo khoác bên trái Ba đang mặc mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Công an tỉnh T phối hợp với Công an huyện T, Công an xã T bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là phù hợp, ngoài ra hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập ngày 05 tháng 02 năm 2024. Bản kết luận giám định số 192/KL-KTHS ngày 08/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Lời khai của những người chứng kiến là anh Nguyễn Văn T1 và anh Lê Văn T2, anh Nguyễn Trọng H1 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì:
Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[...] c) H2, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]”.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Trọng B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma
3
túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưởng đến trật tự trị an. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, Xét bị cáo tàng trữ ma túy để xử dụng cho bản thân bị cáo không có thu nhập nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Vũ Trọng B khai mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng ở khu vực cầu T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.
[7.1] Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô Honda Winner sơn màu đen xám biển kiểm soát 17B6-656.44, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của anh Nguyễn Trọng H1. Ngày 05/02/2024, anh H1 cho B mượn xe mô tô trên để sử dụng. Anh H1 không biết B sử dụng xe đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh H1 là đúng quy định.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Vũ Trọng B 0,1568 gam ma túy, loại Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,1360 gam và toàn bộ bao gói thu của Vũ Trọng B trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 192/KLGĐ của Phòng K Công an tỉnh T là vật Nhà nước cấm lưu
4
hành. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự điểm a khoản 1 điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Trọng B 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 06 tháng 02 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Vũ Trọng B 0,1568 gam ma túy, loại Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,1360 gam và toàn bộ bao gói thu của Vũ Trọng B trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 192/KLGĐ của Phòng K Công an tỉnh T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện T, tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).
- Về án phí: Bị cáo Vũ Trọng Ba phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Trọng B có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30 tháng 5 năm 2024.
|
Nơi nhận:
5 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |
6
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
