|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 30-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Quàng Ngọc Tiên.
2- Ông Lường Văn Dũng.
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Thào A Sùng, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Cầm Nhân H (Không có tên gọi khác), sinh ngày 07/10/1996, tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cầm Nhân L, sinh năm 1966 và bà Quàng Thị M, sinh năm 1968; vợ con: Chưa có; tiền án: Không.
- Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 12/10/2021 bị Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 20 tháng, ngày 15/6/2023, bị cáo chấp hành xong. Hiện chưa được xoá tiền sự.
Nhân thân: Ngày 18/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”, ngày 20/6/2020 bị cáo chấp hành xong. Hiện đã được xóa án tích; tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024, tạm giam từ ngày 06/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt.
2. Họ và tên: Lò Văn T (Không có tên gọi khác), sinh ngày 10/02/1988, tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quôc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn O, sinh năm 1964 và bà Quàng Thị K, sinh năm 1965; vợ Quàng Thị D, sinh năm 1993 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024, tạm giam từ ngày 06/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Cháu Lò Nhật B, sinh năm 2008.
Nơi cư trú: Bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Quàng Thị D, sinh năm 1993.
Nơi cư trú: Bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 28/12/2023, Lò Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda RS, biển kiểm soát: 27AU-000.28 sang nhà Cầm Nhân H để cùng nhau đi làm thuê, khi gặp nhau H bảo T chở lên P để tìm mua ma túy sử dụng, T đồng ý rồi điều khiển xe máy chở H đi tìm mua ma túy. Khi đến bản P, H đi vào bếp của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết sưởi ấm, còn T vào trong nhà chính gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 cục Heroine với giá 100.000đ rồi mang ra ngoài sử dụng hết. Sau khi T ra ngoài H đi vào nhà chính gặp và mua của người đàn ông dân tộc Mông 01 cục Heroine với giá 200.000đ. Sau khi mua được Heroine H cầm ở tay phải rồi đi ra chỗ dừng xe đợi T khoảng 10 phút sau thì T về. H cất gói Heroine vào trong miệng rồi bảo T chở về, trên đường về H có nói với T đã mua được Heroine, T bảo H cất kỹ rồi tiếp tục chở H về nhà để cùng sử dụng. Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 28/12/2023 khi T chở H đến khu vực bản Y, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã N, huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 01 cục chất bột màu trắng nghi là Heroine, và 01 chiếc xe máy Honda biển kiểm soát 27AU-000.28.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 13 giờ 30 phút ngày 28/12/2023 xác định 01 cục chất bột màu trắng thu giữ của Cầm Nhân H có khối lượng là 0,57 gam. Gửi toàn bộ vật chứng đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 158/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Cầm Nhân H và Lò Văn T có khối lượng 0,57 gam chất bột màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại 0,5 gam Heroine sau giám định.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên Đông đã điều tra xác minh, xác định chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA RS, màu trắng bạc, biển kiểm soát 27AU-000.28, số khung: RL9BCB2UMNBG01726; số máy: RNA1P39FMB2C11726 xe cũ đã qua sử dụng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu giữ của Lò Văn T là tài sản hợp pháp của cháu Lò Nhật B, sinh ngày: 24/9/2008, trú tại bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Quá trình điều tra và tại phiên toà: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Lò Nhật B có lời khai thể hiện: Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA RS, màu trắng bạc, biển kiểm soát 27AU-000.28, số khung: RL9BCB2UMNBG01726; số máy: RNA1P39FMB2C11726 xe cũ đã qua sử dụng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu giữ của Lò Văn T là tài sản thuộc sở hữu của cháu, chiếc xe đăng ký đứng tên cháu. Chiếc xe trên do mẹ đẻ cháu tên Quàng Thị D mua cho cháu để sử dụng việc đi học. Việc bố cháu là Lò Văn T lấy xe dùng làm phương tiện đi mua ma túy cháu không biết. Nên làm đơn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại chiếc xe cho cháu để làm phương tiện đi học và sinh hoạt hàng ngày.
Quá trình điều tra và tại phiên toà: Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị D có có lời khai thể hiện: Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA RS, màu trắng bạc, biển kiểm soát 27AU-000.28, số khung: RL9BCB2UMNBG01726; số máy: RNA1P39FMB2C11726 xe cũ đã qua sử dụng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu giữ của Lò Văn T là tài sản riêng của cháu Lò Nhật B, chiếc xe là do chị D tự bỏ tiền ra mua cho con trai chị từ tháng 7/2023, chiếc xe đăng ký đứng tên Lò Nhật B. Số tiền mua xe là chị đi làm thuê có được. Việc bố cháu là Lò Văn T lấy xe dùng làm phương tiện đi mua ma túy cháu không biết. Nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại chiếc xe cho cháu để làm phương tiện đi học và sinh hoạt hàng ngày.
Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSĐBĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cầm Nhân H và bị cáo Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Cầm Nhân H và Lò Văn T cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Cầm Nhân H từ 19 tháng đến 22 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 16 tháng đến 19 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 0,5 gam Heroine còn lại sau khi giám định.
Tịch thu, tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu trắng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi của các bị cáo Cầm Nhân H, Lò Văn T thấy rằng: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Cụ thể: Hồi 09 giờ 30 phút, tại khu vực bản Y, xã N, huyện Đ, tổ công tác công an xã N đã phát hiện bắt quả tang Cầm Nhân H và Lò Văn T đang tàng trữ trái phép 0,57 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, làm mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cầm Nhân H, Lò Văn T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
“c. Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.
[2]. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Cầm Nhân H là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi, còn Lò Văn T là người giúp sức tích cực. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã N nói riêng, huyện Đ nói chung. Vì vậy, hành vi của các bị cáo phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo Cầm Nhân H, ngày 18/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”, ngày 20/6/2020 bị cáo chấp hành xong. Hiện đã được xóa án tích. Ngày 12/10/2021 bị Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 20 tháng, ngày 15/6/2023, bị cáo chấp hành xong. Hiện chưa được xoá tiền sự. Bị cáo Lò Văn T chưa có tiền án, tiền sự, nên các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi, vi phạm của mình. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp các bị cáo làm nông nghiệp, là những đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[7]. Về vật chứng vụ án: Gồm 0,5 gam Heroine hoàn lại sau giám định là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 mảnh nilon màu trắng cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hội đồng xét xử chấp nhận việc cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử lý vật chứng số 126/QĐ-XLVC, ngày 26/02/2024 trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA RS, màu trắng bạc, biển kiểm soát 27AU-000.28, số khung: RL9BCB2UMNBG01726; số máy: RNA1P39FMB2C11726 xe cũ đã qua sử dụng cho cháu Lò Nhật B, sinh ngày: 24/9/2008, trú tại bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu hợp pháp.
[8]. Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo lời khai của các bị cáo là người đã bán ma túy cho các bị can. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chưa xác minh làm rõ được, nên không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.
[9]. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang cư trú tại bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, HĐXX áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiên án phí Hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo: Cầm Nhân H, Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
- + Xử phạt bị cáo Cầm Nhân H 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 28/12/2023).
- + Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 28/12/2023).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy 0,5 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
- - Tịch thu, tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu trắng.
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 24/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chỉ cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử lý vật chứng số: 126/QĐ-XLVC, ngày 26/02/2024 trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA RS, màu trắng bạc, biển kiểm soát 27AU-000.28, số khung: RL9BCB2UMNBG01726; số máy: RNA1P39FMB2C11726 xe cũ đã qua sử dụng cho cháu Lò Nhật B, sinh ngày: 24/9/2008, trú tại bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu hợp pháp.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Cầm Nhân H, Lò Văn T.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyên kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bán (ngày 30/5/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Giang |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cầm Văn H và Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS
