Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 67/2024/HNGĐ - ST

Ngày 29/8/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Ngọc Đoàn
  • Bà Nguyễn Thị Là

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 127/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1999

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(Tại phiên tòa vắng mặt chị T, anh H. Chị T, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng T trình bày: Chị và anh Nguyễn Hữu H kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 10/02/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 01/2024 chị về nhà bố mẹ đẻ chị ở thôn T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình sinh sống, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh Nguyễn Hữu H.

Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 26/01/2024. Ly hôn, chị xin nuôi con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị là 4.000.000 đồng/01 tháng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Hữu H khai: Anh và chị Nguyễn Thị Hồng T kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 10/02/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị T xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 26/01/2024. Ly hôn, anh đồng ý để chị T nuôi con và anh cấp dưỡng nuôi con cùng chị T là 4.000.000 đồng/01 tháng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Hữu H có nơi thường trú tại xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Chị T, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị T và anh H.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T kết hôn với anh H do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 10/02/2022 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị T xin ly hôn, anh H đồng ý. Xét thấy, chị T và anh H đã sống ly thân từ tháng 01/2024, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T xử cho chị T được ly hôn anh H là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 26/01/2024. Ly hôn, chị T xin nuôi con chung, anh H đồng ý. Vì vậy, cần giao con chung Nguyễn Hữu Đ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị T yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng chị là 4.000.000 đồng/01 tháng đến khi con đủ 18 tuổi, anh H đồng ý nên cần chấp nhận. Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không giải quyết về tài sản chung vợ chồng giữa chị T và anh H.

[3]Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh H phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 266; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn anh Nguyễn Hữu H.
  2. Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 26/01/2024 cho chị Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng chị T là 4.000.000 đồng/01 tháng, kể từ tháng 8/2024 đến khi con đủ 18 tuổi.

    Việc thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Tòa án không giải quyết về tài sản.
  4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, anh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003264 ngày 18/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Đương sự, UBND xã Nguyên Xá;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Lan Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ - ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T - H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger