Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 – 7 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Thanh
  2. Bà Nguyễn Hoa Lài

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2024/TL.ST-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh D, sinh năm 1987; địa chỉ: Số B, đường số D, khu K, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
  2. Bị đơn: Ông Lâm Hoài T1, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh D trình bày:

Trước đây, bà và ông Lâm Hoài T1 có quen biết, sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ vào năm 2007. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Nhận thấy không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Lâm Quốc Q (nam), sinh ngày 31/5/2009 và cháu Lâm Huy H (nam), sinh ngày 09/3/2019, hiện cháu H đang sống chung với bà, còn cháu Q đang sống chung với ông T1. Do đó, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H đến khi thành niên và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Đồng ý giao cháu Q cho ông T1 nuôi dưỡng và không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Lâm Hoài T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên chưa ghi nhận được ý kiến.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh D được ly hôn với ông Lâm Hoài T1; Về con chung: Giao cháu Lâm Huy H (nam), sinh ngày 09/3/2019 cho bà D nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông T1 chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Giao cháu Lâm Quốc Q (nam), sinh ngày 31/5/2009 cho ông T1 nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà D chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Thanh D khởi kiện đối với ông Lâm Hoài T1 yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung nên xác định là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T1 cư trú tại huyện C, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Lâm Hoài T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, bà Phạm Thị Thanh D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án:

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Phạm Thị Thanh D và ông Lâm Hoài T1 đã tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hôn nhân giữa bà D, ông T1 là tự nguyện, đảm bảo điều kiện kết hôn và không bị ép buộc, không thuộc trường hợp cấm kết hôn nên hôn nhân là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà D cho rằng vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn.

Đối với ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải đoàn tụ cho các bên nhưng vẫn không đến, thể hiện ông T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đến thời điểm giải quyết vụ án các đương sự vẫn không có biện pháp nào giải quyết mâu thuẫn và đã sống ly thân. Cho thấy, mâu thuẫn hôn nhân của các đương sự là trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông T1.

[3.2] Xét yêu cầu nuôi con chung của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà D và ông T1 có 02 con chung là cháu Lâm Quốc Q (nam), sinh ngày 31/5/2009 và cháu Lâm Huy H (nam), sinh ngày 09/3/2019, hiện cháu Q đang sống với ông T1 và cháu H đang sống chung với bà D. Hiện tại vẫn chưa ghi nhận được ý kiến của ông T1 về vấn đề con chung, cũng như nguyện vọng hiện tại của cháu Q. Do đó, nhằm ổn định cuộc sống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đối với cháu Q và cháu H nên giao cháu H cho bà D và giao cháu Q cho ông T1 nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà D và ông T1 không yêu cầu cấp dưỡng nên ông T1 và bà D chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng. Bà D, ông T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà D khai là không có, nhưng do chưa làm việc được với ông T1 nên chưa xác định được. Do đó, chưa xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[5] Từ những tình tiết, căn cứ nêu trên, xét yêu cầu của bà D cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh D.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh D được ly hôn với ông Lâm Hoài T1. Giấy chứng nhận kết hôn số 105, ngày 28/12/2007 của Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ cấp cho ông T1, bà D không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao cháu Lâm Huy H (nam), sinh ngày 09/3/2019 cho bà Phạm Thị Thanh D nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cháu Lâm Quốc Q (nam), sinh ngày 31/5/2009 cho ông Lâm Hoài T1 nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Bà D, ông T1 chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà D, ông T1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thanh D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai số 0004533 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (bà D đã nộp xong).
  5. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Hậu Giang;

- Các đương sự;

- CQ THA DS h.Châu Thành A;

- VKSND h.Châu Thành A;

- UBND phường An Khánh;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Á

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger