Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HSST

Ngày: 28/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Phùng.

Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt – Thư ký TAND tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 64/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2023/HSST-QĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Thị Kim Y, sinh năm 1982 tại Bình Định; nơi cư trú: 237/19/3 H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Kim H (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm: 1955; chồng: Từ N, có 5 con, lớn nhất sinh năm 1998; nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 09/6/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 12/4/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo bị bắt ngày 24/4/2023, có mặt tại phiên tòa.
  2. Từ Ngọc N, sinh năm 1980 tại Bình Định; nơi cư trú: H L, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Từ Ngọc D, sinh năm: 1949 và con bà: Võ Thị S, sinh năm: 1959; vợ: Đặng Thị Kim Y; Con: 3 đứa, lớn nhất sinh năm 2003; nhỏ nhất sinh năm 2017; nhân thân: Ngày 05/8/2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Q xử phạt 05 tháng 16 ngày tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo bị bắt ngày 24/4/2023, có mặt tại phiên tòa.
  3. Trần Minh H1, sinh năm 1987 tại Bình Định; nơi thường trú: G T, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh G, sinh năm: 1960 và bà Cao Thị Bích L, sinh năm: 1966; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 24/4/2023, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h30' ngày 24/4/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra hành chính tại số nhà B, đường H, thành phố Q phát hiện Đặng Thị Kim Y đang bán trái phép chất ma túy cho Trần Minh H1 01 gói ni lông, bên trong chứa các hạt tinh thể không màu, nghi là ma túy. Tiến hành khám xét nơi ở của Đặng Thị Kim Y, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 bình nhựa, miệng có nắp vặn, có gắn ống hút và nỏ thủy tinh; 01 nỏ thủy tinh.

Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 24/4/2023, Trần Minh H1 điện thoại cho Từ Ngọc N1 hỏi mua 01 gói ma túy “đá” với giá 1.000.000 đồng và hẹn đến trước số nhà B H, phường N, thành phố Q để nhận ma túy. N1 nói lại với Đặng Thị Kim Y (đang ở trong phòng ngủ) là H1 mới gọi hỏi mua ma túy “đá” và nói với Y có ma túy thì bán cho H1. Nghe vậy,Y cầm gói ma tuý đến trước nhà bán cho Trần Minh H1 thu với giá 1.000.000đ thì bị Tổ công tác phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang.

Ngày 26/4/2023, Phòng K Công an tỉnh B đã giám định kết luận: Các hạt tinh thể đựng bên trong 01 (một) gói ni lông thu giữ của Trần Minh H1 là ma túy, có khối lượng 0,2694 gam là loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 75/CT-VKSBĐ-P1 ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ Ngọc N1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Trần Minh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt các bị cáo Đặng Thị Kim Y từ 03 đến 04 năm tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt các bị cáo Từ Ngọc N1 từ 02 đến 03 năm tù.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Minh H1 từ 12 đến 15 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho các bị cáo 03 điện thoại. Tịch thu sung công 1.000.000đ.

Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:

Các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ N có hành vi mua ma túy bán cho bị cáo Trần Minh H1. Bị cáo Trần Minh H1 có hành vi mua 0,2694g Methamphetamine của các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ Ngọc N1 về sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ Ngọc N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Trần Minh H1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi nêu trên của các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ Ngọc N1, Trần Minh H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về nhân thân: Các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ N có nhân thân xấu; bị cáo Trần Minh H1 có nhân thân tốt.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ N, Trần Minh H1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Đặng Thị Kim Y có ông ngoại là liệt sĩ nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, CQĐT đã thu giữ các vật chứng:

Các vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ:

  • Một phong bì số 204/KL-KTHS bên ngoài có ghi: Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 0,1759 gam mẫu A còn lại sau giám định.
  • 01 (một) bình nhựa, miệng có nắp vặn, có gắn ống hút và nỏ thủy tinh.
  • 01 (một) nỏ thủy tinh.

Trả lại cho các bị cáo:

  • 01 (một) điện thoại di động màu xanh - đen, mặt sau có dòng chữ Redmi, (tạm giữ của Từ Ngọc N1).
  • 01 (một) điện thoại di động màu xanh - đen, mặt sau có dòng chữ realme, mặt trước có nhiều vết nứt kính (tạm giữ của Đặng Thị Kim Y).
  • 01 (một) điện thoại di động mặt trước màu đen, mặt sau màu trắng, có hình trái táo khuyết (tạm giữ của Trần Minh H1).

Tịch thu sung công:

  • 02 (hai) tờ tiền Việt Nam, loại Polime, mệnh giá 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Y.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/8/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Minh H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị Kim Y 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2023.
    2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Từ Ngọc N1 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2023.
    3. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Minh H1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2023.
  2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
    1. Tịch thu tiêu hủy:
      • Một phong bì số 204/KL-KTHS bên ngoài có ghi: Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 0,1759 gam mẫu A còn lại sau giám định.
      • 01 (một) bình nhựa, miệng có nắp vặn, có gắn ống hút và nỏ thủy tinh.
      • 01 (một) nỏ thủy tinh.
    2. Trả lại cho bị cáo Từ Ngọc N1:
      • 01 (một) điện thoại di động màu xanh - đen, mặt sau có dòng chữ Redmi, (tạm giữ của Từ Ngọc N1).
    3. Trả lại cho bị cáo Đặng Thị Kim Y:
      • 01 (một) điện thoại di động màu xanh - đen, mặt sau có dòng chữ realme, mặt trước có nhiều vết nứt kính (tạm giữ của Đặng Thị Kim Y).
    4. Trả lại cho bị cáo Trần Minh H1:
      • 01 (một) điện thoại di động mặt trước màu đen, mặt sau màu trắng, có hình trái táo khuyết (tạm giữ của Trần Minh H1).
    5. Tịch thu sung công của bị cáo Đặng Thị Kim Y:
      • 02 (hai) tờ tiền Việt Nam, loại Polime, mệnh giá 500.000 đồng.
  3. Về án phí HSST: Các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ N, Trần Minh H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh Bình Định;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2023/HSST ngày 28/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ N có hành vi mua ma túy bán cho bị cáo Trần Minh H1. Bị cáo Trần Minh H1 có hành vi mua 0,2694g Methamphetamine của các bị cáo Đặng Thị Kim Y, Từ Ngọc N1 về sử dụng thì bị bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger