Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 67/2023/HS-ST

Ngày 27 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Lệ Thanh

Các Hội thẩm nhân dân :

  1. Bà Trần Hằng Nga;
  2. Ông Ngô Quang Vinh.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2023/HSST ngày 29/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HS ngày 15/12/2023 đối với bị cáo:

Trần Văn M;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 27/7/1986 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân lái máy; Con ông: Trần Văn T, sinh năm: 1962; Con bà: Vũ Thị N, sinh năm: 1961; Vợ: Trần Thị Tuyết N1, sinh năm: 1990; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 248/2018/HSST ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Văn M 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2018 (được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù: 06 tháng; thi hành xong hình phạt chính ngày 12/12/2019, thi hành xong án phí HSST ngày 26/10/2018);

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần V và máy công trình Tự Lập do ông Nguyễn Mạnh H – Phó ban vật tư cơ giới đại diện theo ủy quyền.

Địa chỉ: Khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8-9/2021 (không nhớ ngày), Trần Văn M, sinh năm 1986, trú tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, biết thông tin Công ty Cổ phần V và máy công trình Tự Lập, trụ sở đóng tại: khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ, đang tuyển dụng công nhân lái máy chuyên dùng (xe lu) cùng thời gian, nên Trần Văn M nảy sinh ý định đặt mua 01 Chứng chỉ vận hành máy lu giả để xin tuyển dụng vào Công ty Cổ phần V và máy công trình Tự Lập. M truy cập vào mạng xã hội Facebook, tìm hiểu và nhắn tin đặt mua 01 Chứng chỉ vận hành máy lu giả (M không nhớ cụ thể tên tài khoản Facebook đã đặt mua, không biết chủ tài khoản là ai). Quá trình trao đổi, M thống nhất với người nhận làm 01 Chứng chỉ giả có giá là 2.500.000 đồng, việc giao nhận Chứng chỉ giả được thực hiện qua đường chuyển phát nhanh. Sau đó, M gửi thông tin cá nhân, gồm: tên, tuổi, ngày tháng năm sinh, địa chỉ thường trú, số điện thoại và ảnh chân dung của M cho người nhận làm chứng chỉ giả. Khoảng 03 ngày sau, M nhận được 01 Chứng chỉ giả có đặc điểm: Chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu số AD423 ngày 15/9/2019, cấp cho Trần Văn M, có đóng dấu tròn màu đỏ của Trường Cao đẳng G.

Sau khi nhận được Chứng chỉ giả, M làm hồ sơ xin làm công nhân lái xe lu nộp tại Công ty Cổ phần V, bao gồm: Bản gốc chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu (chứng chỉ giả M đặt mua); đơn xin việc; sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; giấy khám sức khỏe có xác nhận của Cơ quan y tế; bản photo giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu. Sau khi kiểm tra hồ sơ đầy đủ thủ tục, quá trình phỏng vấn và sát hạch thực tế đạt yêu cầu, ngày 01/11/2021, đại diện Công ty cổ phần V và máy công trình Tự Lập đã ký hợp đồng lao động với M. Từ ngày ký hợp đồng lao động, Phòng tổ chức hành chính của Công ty lưu giữ, quản lý bản gốc Chứng chỉ vận hành máy lu giả mà M đã sử dụng để xin tuyển dụng.

Sau khi ký hợp đồng, M làm công nhân lái xe lu cho Công ty cổ phần V và máy công trình Tự Lập và thi công nhiều dự án của Công ty. Ngày 31/5/2023, khi M đang điều khiển xe lu biển kiểm soát 19SA – 0410 tại Công trường đang thi công dự án tuyến đường nối giữa đường H với tỉnh lộ 320C thuộc khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì xảy ra tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 19M1 – 234.98 do anh Vũ Trường L, sinh năm 2001, trú tại: khu V, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ điều khiển, hậu quả: Anh L tử vong. Sau khi xảy ra tai nạn, ngày 03/6/2023, Công ty đã bàn giao lại chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu cho M, đến ngày 09/6/2023, M đã giao nộp Chứng chỉ trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành xác minh tại Trường Cao đẳng G, địa chỉ: xã T, huyện B, thành phố Hà Nội. Qua kiểm tra hồ sơ, sổ sách, Trường Cao đẳng G xác nhận không đào tạo và không cấp chứng chỉ sơ cấp cho Trần Văn M.

Ngày 12/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định tài liệu đối với Chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu số AD423 ngày 15/9/2019 do Trần Văn M giao nộp. Tại Bản kết luận giám định số 946/KL – KTHS ngày 19/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“1. Hình dấu tròn màu đỏ dưới mục “KT. HIỆU TRƯỞNG/PHÓ HIỆU TRƯỞNG” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) được sao chụp bằng phương pháp in phun màu nên so với hình dấu trên mẫu so sánh (Ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

2. Chữ ký đứng tên Bùi Quốc T1 dưới mục “KT. HIỆU TRƯỞNG/PHÓ HIỆU TRƯỞNG” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) được sao chụp bằng phương pháp in phun màu nên so với chữ ký đứng tên Bùi Quốc T1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu M2) không phải do cùng một người ký ra.”

Về việc giải quyết vụ tai nạn giao thông ngày 31/5/2023 tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã thụ lý, giải quyết theo quy định và ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 24 ngày 31/7/2023.

Về hành vi sử dụng chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu giả của Trần Văn M, xét thấy có dấu hiệu của tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Ngày 29/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Văn M về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo M đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, lời khai của M phù hợp với lời khai người có quyền, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ.

Đối với người làm chứng chỉ giả, M không nhớ cụ thể tên tài khoản Facebook, không biết tên và địa chỉ của người này. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại di động của M nhưng không thu thập được thông tin gì có liên quan đến người này. Do đó, không đủ cơ sở để xác định người làm chứng chỉ giả cho M như M đã khai.

Về vật chứng và các đồ vật, tài sản thu giữ, kết quả điều tra xác định:

Đối với Chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu số AD423 ngày 15/9/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Trường Cao đẳng G, do Trần Văn M giao nộp, là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, được lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với 03 phôi chứng chỉ sơ cấp do Trường Cao đẳng G giao nộp để phục vụ công tác giám định tài liệu, ngày 09/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại các tài liệu trên cho Trường Cao đẳng G.

Về điều kiện kinh tế: Bị cáo có quyền sử dụng đối với thửa đất số 570, tờ bản đồ số 10, diện tích 174m², tại khu D, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngoài ra, bị cáo không có tài sản gì khác có giá trị.

Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKSTXPT ngày 27/11/2023 của VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố Trần Văn M về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Trần Văn M đã thành khẩn khai nhận hành vi: Do có nhu cầu xin việc làm, trong khoảng thời gian tháng 8,9/2021 (không nhớ ngày), Trần Văn M đã có hành vi mua và sử dụng 01 Chứng chỉ giả lái xe lu số AD423 đề ngày cấp 15/9/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Trường Cao đẳng G, để nộp hồ sơ xin làm công nhân lái xe lu tại Công ty Cổ phần V và máy công trình Tự Lập. Đến ngày 31/5/2023, tại Công trường khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, khi M điều khiển xe lu đã xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe lu biển kiểm soát 19SA – 0410 do M điều khiển với xe mô tô biển kiểm soát 19M1 – 234.98 do anh Vũ Trường L điều khiển. Trong quá trình điều tra, M đã sử dụng giấy chứng chỉ lái xe lu giả để giải quyết vụ việc. Sau khi Cơ quan điều tra phát hiện, điều tra về hành vi sử dụng giấy tờ giả của bị cáo, Công ty Cổ phần V đã chấm dứt hợp đồng lao động với bị cáo. Hiện bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định. Ông, bà nội bị cáo là cụ Trần Văn P và cụ Trần Thị C đều được UBND tỉnh P tặng Bằng khen kháng chiến.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1, 4 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn M mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo M. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4, điều 36 Bộ luật Hình sự trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Lưu hồ sơ vụ án: Chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu số AD423 ngày 15/9/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Trường Cao đẳng G.

Xác nhận, ngày 09/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho Trường Cao đẳng G: 03 phôi chứng chỉ sơ cấp của Trường Cao đẳng G.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có tranh luận gì khác. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn M phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ của vụ án. Do có nhu cầu xin việc làm, trong khoảng thời gian tháng 8,9/2021 (không nhớ ngày), Trần Văn M đã có hành vi mua và sử dụng 01 Chứng chỉ giả lái xe lu số AD423 đề ngày cấp 15/9/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Trường Cao đẳng G, để nộp hồ sơ xin làm công nhân lái xe lu tại Công ty Cổ phần V, trụ sở: khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 31/5/2023, tại Công trường khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, khi M điều khiển xe lu đã xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe lu biển kiểm soát 19SA – 0410 do M điều khiển với xe mô tô biển kiểm soát 19M1 – 234.98 do anh Vũ Trường L điều khiển. Trong quá trình điều tra, M đã sử dụng giấy chứng chỉ lái xe lu giả để giải quyết vụ việc. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Trần Văn M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.”

[1] Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo M không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét tính chất vụ án: là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm không lớn cho xã hội với lỗi cố ý đã xâm phạm trực tiếp đến uy tín, hoạt động đứng đắn của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, nên cần phải được xử lý nghiêm theo pháp luật. Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử kịp thời nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người đã thành niên, có sức khỏe, không có công ăn việc làm, dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội đặt mua, sử dụng Chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu giả để xin việc. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông bà nội được thưởng bằng khen kháng chiến. Do đó, bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nhân thân bị cáo xấu, do năm 2018 đã bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2018 (được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù: 06 tháng; thi hành xong hình phạt chính ngày 12/12/2019, thi hành xong án phí HSST ngày 26/10/2018). Ngoài lần phạm tội trên, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, làm việc. Căn cứ vào tính chất, mước độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã nêu, Hội đồng xét xử xét thấy việc đề xuất của Kiểm sát viên cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội và đề xuất mức hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 điều 341 BLHS quy đinh: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, sau khi Cơ quan điều tra phát hiện, điều tra về hành vi sử dụng giấy tờ giả của bị cáo, Công ty Cổ phần V đã chấm dứt hợp đồng lao động với bị cáo, hiện bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định. Bị cáo có tài sản duy nhất là 01 thửa đất nơi cả gia đình bị cáo sinh sống nên miễn khấu trừ thu nhập, nhưng phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chứng chỉ sơ cấp về vận hành máy lu của M là vật chứng của vụ án cần tịch thu lưu hồ sơ.

Ngày 09/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại 03 phôi chứng chỉ sơ cấp của Trường Cao đẳng G, cần xác nhận.

Đối với việc Công ty Cổ phần V và máy công trình Tự Lập là lưu giữ, quản lý bản Chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu mà M đã sử dụng để xin tuyển dụng. Trong suốt quá trình M làm việc tại Công ty, đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ngày 26/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty cổ phần V và máy công trình Tự Lập theo quy định là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 4 điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36, khoản 3 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 điều 136, khoản 1, 4 điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Xử phạt: Trần Văn M 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Trần Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo M có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo M, buộc bị cáo M phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì áp dụng theo quy định tại điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu để lưu hồ sơ: 01 Chứng chỉ sơ cấp vận hành máy lu số AD423 ngày 15/9/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Trường Cao đẳng G1.
  • - Xác nhận ngày 09/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho Trường Cao đẳng G1: 03 phôi chứng chỉ sơ cấp của Trường Cao đẳng G1 là hợp pháp.

Về án phí: Buộc Trần Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, NLQ;
  • - VKSND thị, tỉnh;
  • - Thi hành án;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND xã Đỗ Xuyên;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Lệ Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 67/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger