Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 67 / 2024/DS-ST
Ngày: 26/04/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và xử lý tài sản bảo đảm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Ông Nguyễn Hữu Trọng

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đắc Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 242/2023/TLST- DS ngày 22/12/2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QÐST - DS ngày 8/04/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/QÐST- DS ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1 (viết tắt là V1); Địa chỉ: Tầng A, (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà Sailling Tower, số A P, Phường B, quận A, TP .; Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thành C - chức vụ: Giám đốc trung tâm Q2 theo Giấy ủy quyền số 107083.22 ngày 03/10/2022 của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP Q1.Người được ủy quyền: bà Nguyễn Thị Khánh L - Cán bộ ( có mặt)

3. Bị đơn:

  1. Anh Hồ Sỹ L1, sinh năm 1980( vắng mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1983 (vợ anh L1)( vắng mặt)

Cùng trú tại: Xóm C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai - Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn- trình bày:

Ý kiến của đại diện nguyên đơn – bà Nguyễn Khánh L trình bày:

Ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q1 (sau đây gọi tắt là V1)theo các Hợp đồng tín dụng, chi tiết như sau:

•Hợp đồng tín dụng số CN003.HDTD1-038.15/VIB ngày 06/01/2015 với nội dung: VIB cho ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 vay số tiền 350.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Mua sắm vật dụng và trang thiết bị gia đình. Thời hạn vay: 60 tháng kể từ ngày 20/01/2015; Lãi suất vay: 0.68%/tháng (tương đương 8.16%/năm) trong 30 tháng đầu tiền. Lãi suất từ tháng thứ 31 trở đi được điều chỉnh 03 tháng/lần bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng do VIB công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4%/năm, phù hợp với các quy định của Pháp luật, Ngân hàng N1 và chính sách của V1 tại từng thời kỳ. Hoàn trả khoản vay gốc: gốc trả đều trong vòng 60 tháng và trả vào ngày 25 của tháng. Số tiền gốc trả hàng tháng là 5.835.000 VND, số tiền gốc còn lại trả vào cuối kỳ. Trả nợ lãi: Lãi tính theo dư nợ thực tế và được trả vào ngày 25 hàng tháng. Ngày trả nợ gốc lãi đầu tiên: 25/02/2015; ngày trả nợ lãi và nợ gốc cuối cùng 20/01/2020.

•Ngày 20/01/2015, V1 đã giải ngân cho ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số CN003/KUNN1-VIB038/15 với số tiền 350.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.

b) Hợp đồng thế chấp.

Để bảo đảm cho khoản vay, ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 đã ký kết Hợp đồng thế chấp số công chứng 19/2015, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐTC do Văn phòng C1 công chứng ngày 06/01/2015. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 373, tờ bản đồ (trích đo thửa đất) số: 4, địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BP 985711, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 00535 do Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/01/2014 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị T. Ngày 11/7/2014, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, thành phố Hà Nội đăng ký sang tên cho ông Hồ Sỹ L1 theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2678/2014/TCQSDĐ; quyền số: 04 VP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C2, thành phố Hà Nội công chứng ngày 03/7/2014.

2.Quá trình thực hiện Hợp đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên các các khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận.

Ngày 22/11/2022, ông Hồ Sỹ L1 có đơn xin chuộc tài sản với nội dung đề xuất nộp vào Ngân hàng 600.000.000 đồng để xin giải chấp tài sản. Số tiền còn lại tạm tính đến ngày 21/11/2022 là 184.363.925 đồng xin Ngân hàng cho nợ lại sẽ trả trong tương lai.

Ngày 28/11/2022, Ngân hàng V1 chấp thuận cho khách hàng nộp số tiền 600.000.000 đồng để giải chấp tài sản, số tiền còn lại khách hàng tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho V1.

Ngày 09/12/2022, Khách hàng đã nộp vào VIB số tiền 600.000.000 đồng và được V1 giải chấp tài sản.

Sau đó V1 đã nhiều lần yêu cầu ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị Loanthanh t toàn bộ khoản vay còn lại nhưng ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 không có phương án thanh toán phù hợp.

Tạm tính đến ngày 11/03/2024, ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 đã trả cho V1 tổng số tiền là: 670.693.015 đồng (Sáu trăm bảy mươi triệu, sáu trăm chín mươi ba nghìn, không trăm mười lăm đồng). Cụ thể như sau:

  • Nợ gốc: 350.000.000 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn: 9.678.599 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 310.960.416 đồng

Và còn nợ VIB tạm tính đến ngày 23/01/2024 tổng số tiền là 187.975.117 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy đồng). Cụ thể:

  • Nợ gốc: 0 đồng;Nợ lãi trong hạn: 0 đồng;Nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng

I. ĐỀ NGHỊ

  1. Buộc ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 26/04/2024 là: 187.975.117 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy đồng). Trong đó: nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng.
  2. Đề nghị Q tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 26/04/2024 cho đến khi ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng (HĐTD) đã ký (Chi tiết xem Hợp đồng tín dụng số CN003.HDTD1-038.15/VIB ngày 06/01/2015, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số CN003/KUNN1-VIB038/15 ngày 20/01/2015.
  3. Trong trường hợp ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 để thu hồi nợ cho V1.
  4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Hồ Sỹ L1 được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ bán, xử lý tài sản thuộc sở hữu của ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V1.

* Án phí: ông Hồ Sỹ L1 phải chịu phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật

*Ý kiến của ông Hồ Sỹ L1 trình bày:

Xác nhận, vợ chồng tôi đã ký Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để vay của Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tính đến ngày 11/03 /2024 là: 187.975.117 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy đồng). Trong đó: nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng.là: 350.000.000 đồng, về mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất vay như đại diện Ngân hàng vừa trình bày là đúng.

Xác nhận vợ chồng tôi đã được Ngân hàng giải ngân đủ số tiền 350.000.000 đồng. (Ba trăm năm mươi triệu đồng)

Xác nhận tạm tính đến ngày 22/11/2022, vợ chồng tôi đã tất toán trả ngân hàng 600.000.000 đồng( Sáu trăm triệu đồng)

Hiện đến nay vợ chồng tôi đã tất toán xong với ngân hàng và từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án và đề nghị ngân hàng làm rõ việc giải chấp khoản vay của tôi tại ngân hàng.

* Án phí : Không chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP Q1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải trả Ngân hàng TMCP Q1 số tiền còn nợ tính đến ngày 26/04 /2024 là: 187.975.117 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy đồng). Trong đó: nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng.

Buộc ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng kể từ ngày 26/04/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Trường hợp ông Hồ Sỹ 1 và bà Nguyễn Thị L2 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mại tài sản của ông Hồ Sỹ L1, bà Nguyễn Thị L2 để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ thể hiện quan điểm:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1, buộc ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải thanh toán trả Ngân hàng TMCP Q1 theo Hợp đồng tín dụng số tiền còn nợ tính đến ngày 26/04 /2024 là: 187.975.117 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy đồng). Trong đó: nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng.

Buộc ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng kể từ ngày 26/04/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Trường hợp ông Hồ Sỹ 1 và bà Nguyễn Thị L2 không trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mại tài sản của ông Hồ Sỹ L1, bà Nguyễn Thị L2 để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP Q1 có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đối với ông Hồ Sỹ L1 và Bà Nguyễn Thị L2 . Hiện ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 trú tại thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về áp dụng luật nội dung: Thời điểm giao kết Hợp đồng tín dụng là ngày 06/01/2015, nên cần phải áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 để giải quyết tranh chấp.

[1.3]. Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do. Toà án xét xử vắng mặt bà bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung:

[2.1]. Xét tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng tín dụng số CN003.HDTD1-038.15/VIB ngày 06/01/2015 với nội dung: VIB cho ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 vay số tiền 350.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Mua sắm vật dụng và trang thiết bị gia đình. Thời hạn vay: 60 tháng kể từ ngày 20/01/2015; Lãi suất vay: 0.68%/tháng (tương đương 8.16%/năm) trong 30 tháng đầu tiền. Lãi suất từ tháng thứ 31 trở đi được điều chỉnh 03 tháng/lần bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng do VIB công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4%/năm, phù hợp với các quy định của Pháp luật.

Xét tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng trên được các bên cùng xác nhận ký kết trên cơ sở tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 290, 343, 474 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực thi hành.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay – ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 đã thanh toán số tiền 600.000.000 đồng ( Sáu trăm triệu đồng) về thời hạn trả nợ tiền vay nên Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt theo thỏa thuận trong hợp đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019. Đây là căn cứ pháp lý buộc bên vay là ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng TMCP Q1 số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số tiền còn nợ tính đến ngày 26/04 /2024 là: 187.975.117 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy đồng). Trong đó: nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng.

Ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 26/04/2024 đối với tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

[2.4]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý nghĩa vụ bảo đảm:

Để bảo đảm cho khoản vay, ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 đã ký kết Hợp đồng thế chấp số công chứng 19/2015, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐTC do Văn phòng C1 công chứng ngày 06/01/2015. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 373, tờ bản đồ (trích đo thửa đất) số: 4, địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BP 985711, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 00535 do Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Hà Nội cấp ngày 20/01/2014 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị T. Ngày 11/7/2014, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, thành phố Hà Nội đăng ký sang tên cho ông Hồ Sỹ L1 theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2678/2014/TCQSDĐ; quyền số: 04 VP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C2, thành phố Hà Nội công chứng ngày 03/7/2014.

Hợp đồng bảo lãnh được các bên ký kết tự nguyện là đúng quy định tại Điều 335, 336, 338, 339, 342 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó thoả thuận trong Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký giữa các bên có hiệu lực pháp luật để thi hành. Yêu cầu của phía nguyên đơn đề nghị có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Công ty L5, bà Bùi Thị N, ông Hồ Sỹ H để thu hồi khoản nợ vay là có căn cứ để chấp nhận.

[3] .Về nghĩa vụ chịu án phí:

  • Bị đơn ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả là 9.398.756 đồng.
  • Hoàn trả Ngân hàng TMCP Q1 tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điều 335, 336, 338, 339, 342 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 167, 168 Luật Đất đai năm 2013; Điều 91, 95,98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019

Căn cứ Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 điều 147, điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1.
  2. Buộc ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số CN003.HDTD1-038.15/VIB ngày 06/01/2015 với nội dung: VIB cho ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 tính đến ngày 26/04 /2024 là: 187.975.117 đồng (Một trăm tám mươi bảy triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm mười bảy đồng). Trong đó: nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi trong hạn: 0 đồng, nợ lãi quá hạn: 187.975.117 đồng.
  3. Ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số CN003.HDTD1-038.15/VIB ngày 06/01/2015, kể từ ngày 26/04/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  4. Trường hợp ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghãi vụ thanh toán nợ cho V2, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 để thu hồi khoản nợ vay.
  5. Án phí: ông Hồ Sỹ L1 và bà Nguyễn Thị L2 phải nộp 9.398.756 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.700.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 001672 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm; Người đại diện của nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - THA huyện Chương Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

tm. Hội đồng xét xử

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Vương Đăng Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm

  • Số bản án: 67/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger