Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 25 – 04 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Lê Hưng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đào Thị H; tên gọi khác: không; sinh ngày 25/4/1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Kinh doanh; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Đào Tiến L, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Có chồng là Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988 và có 04 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
  2. Nguyễn Thị Lan A; tên gọi khác: không; sinh ngày 13/8/1997; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Giáo viên; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973 và bà An Thị H1, sinh năm 1975; Chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Q; sinh năm 1987; Nơi cư trú: TDP T, phường T, Tp., tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

- Người làm chứng: Ông Đặng Minh T, sinh năm 1977; Nơi cư trú: TDP Q, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Tạ Văn Q1; sinh năm 1960; Nơi cư trú: T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/11/2023, Công an phường Đ, thành phố P nhận được đơn trình báo của anh Đặng Minh T, sinh năm 1977, trú tại: tổ dân phố Q, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên là cán bộ tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P về việc trong quá trình tiếp nhận hồ sơ chứng thực của Nguyễn Thị Lan A tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường phát hiện giấy khám sức khỏe đề số: 278936/GKSK ngày 15/11/2023 của Bệnh viện C thông tin cá nhân của Nguyễn Thị Lan A có dấu hiệu bị làm giả. Công an phường Đ lập biên bản sự việc, tạm giữ niêm phong của Lan A 01 tờ giấy khám sức khỏe và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh. Đến ngày 22/11/2023, Công an phường Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra xác định được Nguyễn Thị Lan A đã đặt mua Giấy khám sức khỏe giả của Đào Thị H tại cửa hàng Q2 thuộc tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên là cơ sở kinh doanh của H và anh Nguyễn Văn Q (sinh năm 1987; trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Lan A và Đào Thị H khai nhận: Do cần giấy khám sức khỏe để nộp hồ sơ xét tuyển hợp đồng giáo viên nên khoảng 17 giờ ngày 14/11/2023 tại nhà thuộc tổ dân phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Lan A đã nhắn tin qua mạng xã hội Zalo đến tài khoản “Quảng Nguyễn P1” để hỏi làm giấy khám sức khỏe thì được Đào Thị H sử dụng tài khoản Zalo trên đăng nhập vào máy vi tính tại cửa hàng Q2 nhận lời và yêu cầu Lan A cung cấp ảnh thẻ để làm giấy khám sức khỏe. Đến khoảng 08 giờ ngày 15/11/2023, Lan A đến cửa hàng Q2 rồi đưa cho H 01 tấm ảnh thẻ 4x6 của Lan A và cung cấp thông tin cá nhân gồm họ tên, số căn cước công dân cho H rồi ra về. Sau đó, H đã liên hệ với một người không quen biết trên mạng xã hội Zalo để đặt làm giấy khám sức khỏe cho Lan A. H hỏi người này làm giấy khám sức khỏe ở đâu thì người này trả lời là làm giấy khám sức khỏe ở Bệnh viện C1 rồi H chụp lại ảnh thẻ của Lan A bằng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V21 5G màu tím hồng của H và gửi cho người này để làm giấy khám sức khỏe với giá 150.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, tại cửa hàng Q2, H nhận được giấy khám sức khỏe từ một người lái xe ôm và trả cho người này 150.000 đồng.

Sau đó, H nhắn tin lại cho Lan A để báo giấy khám sức khoẻ đã làm xong thì Lan A đi đến cửa hàng Q2 đưa cho H căn cước công dân của Lan A để H sử dụng 01 chiếc bút bi mực xanh nhãn hiệu matixs điền thông tin cá nhân của Lan A vào giấy khám sức khỏe rồi giao giấy cho Lan A và nhận từ Lan A số tiền là 200.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Lan A đến bộ phận tiếp công dân của Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P để chứng thực Giấy khám sức khỏe giả trên thì bị cán bộ tư pháp phát hiện, trình báo cơ quan Công an. Lời khai của Nguyễn Thị Lan A và Đào Thị H phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra, Đào Thị H đã tự nguyên giao nộp: 01 chiếc bút bi mực xanh nhãn hiệu “matixs”; 01 tấm ảnh nữ giới mặc áo phông kẻ xanh, trắng cỡ 4x6cm; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo V21 5G, đã qua sử dụng, màu tím hồng, số IMEI: 868163057639111, số IMEI 2: 868163057639103, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0327.999.xxx và 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0372.848.xxx; 01 chiếc màn hình máy tính để bàn đề nhãn hiệu Lenovo kết nối với case máy tính không đề chủng loại đã cũ và qua sử dụng. Anh Nguyễn Văn Q đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, đã qua sử dụng, màu xanh, có số IMEI: 355883614882231, số IMEI 2: 355883614760072, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0963.915.xxx.

Tại bản Kết luận giám định số: 04/KL- KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • “1. Hình dấu tròn đỏ có nội dung “Bệnh viện C” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M3 do Bệnh viện C1 cung cấp không phải do cùng một con dấu đóng ra;
  • 2. Hình dấu vuông có nội dung: “Bệnh viện C - Đã thu tiền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu M7 do Bệnh viện C1 cung cấp không phải do cùng một con dấu đóng ra;
  • 3. Chữ ký mang tên “Nguyễn Thị Lan A” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký mang tên “Nguyễn Thị Lan A” trên mẫu so sánh ký hiệu M2 do Nguyễn Thị Lan A ký do cùng một người ký ra;
  • 4. Chữ viết tại trang 1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết trên mẫu so sánh ký hiệu M1 do Đào Thị H viết do cũng một người viết ra;
  • 5. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký dưới mục “Người kết luận” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M6 do ông Đoàn Văn H2 – Phó Giám đốc Bệnh viện C1 ký có phải do cùng một người ký ra hay không do không đồng dạng;
  • 6. Chữ ký, chữ viết đề tên “BSCKI. Chu Thị N1” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết trên mẫu so sánh ký hiệu M4 do bà Chu Thị N1 – Phó Khoa Huyết học Vi sinh Bệnh viện C1 ký và viết không phải do cùng một người ký và viết ra;
  • 7. Chữ ký mang tên “BSCKI. Nguyễn Văn T1” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M5 do ông Nguyễn Văn T1 Phó Khoa Truyền nhiễm Da liễu Bệnh viện C1 ký không phải do cùng một người ký ra”

Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 356718114837153 được niêm phong ký hiệu G1; 01 chiếc bút bi mực xanh nhãn hiệu “matixs” và 01 tấm ảnh nữ giới mặc áo phông kẻ xanh, trắng cỡ 4x6cm được niêm phong ký hiệu G2; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo V21 5G, đã qua sử dụng, màu tím hồng, số IMEI: 868163057639111, số IMEI 2: 868163057639103, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0327.999.xxx và 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0372.848.xxx được niêm phong ký hiệu G3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, đã qua sử dụng, màu xanh, có số IMEI: 355883614882231, số IMEI 2: 355883614760072, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0963.915.xxx được niêm phong ký hiệu G4; 01 chiếc màn hình máy tính để bàn đề nhãn hiệu Lenovo kết nối với case máy tính không đề chủng loại đã cũ và qua sử dụng được niêm phong ký hiệu G5 được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị Lan A và Đào Thị H như nội dung bản Cáo trạng số 47/CT-VKSPY ngày 01/03/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Lan A và Đào Thị H phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”
  2. Về hình phạt
    1. Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan A và Đào Thị H mỗi bị cáo từ 06 - 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo Nguyễn Thị Lan A và Đào Thị H cho Ủy ban nhân dân phường nơi các bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

    3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
  3. Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 356718114837153 được niêm phong ký hiệu G1; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo V21 5G, đã qua sử dụng, màu tím hồng, số IMEI: 868163057639111, số IMEI 2: 868163057639103, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0327.999.xxx và 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0372.848.xxx được niêm phong ký hiệu G3; 01 chiếc màn hình máy tính để bàn đề nhãn hiệu Lenovo kết nối với case máy tính không đề chủng loại đã cũ và qua sử dụng được niêm phong ký hiệu G5
    • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn Q 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, đã qua sử dụng, màu xanh, có số IMEI: 355883614882231, số IMEI 2: 355883614760072, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0963.915.xxx được niêm phong ký hiệu G4
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi mực xanh nhãn hiệu “matixs” và 01 tấm ảnh nữ giới mặc áo phông kẻ xanh, trắng cỡ 4x6cm được niêm phong ký hiệu G2.
    • - Truy thu số tiền 50.000đồng của bị cáo Đào Thị H do thu lợi bất chính mà có.
    • 4. Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
    • Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo theo quy định.

Trong phần tranh luận, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo thừa nhận việc điều tra, truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.

Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo địa phương để có cơ hội chăm sóc gia đình và làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của tội của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, dữ liệu điện tử thu thập tại điện thoại và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, do vậy Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Do cần giấy khám sức khỏe để nộp hồ sơ xét tuyển hợp đồng giáo viên nên ngày 14/11/2023 tại cửa hàng Q2 thuộc tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Thị Lan A đã có hành vi cung cấp ảnh thẻ, thông tin cá nhân của mình cho Đào Thị H để H làm giấy khám sức khỏe giả đề Bệnh viện C1 của một người không quen biết trên mạng xã hội Zalo với giá 150.000 đồng. Đến ngày 15/11/2023 tại cửa hàng Q2, sau khi nhận được giấy khám sức khỏe giả, Đào Thị H đã có hành vi viết thông tin cá nhân của Nguyễn Thị Lan A vào giấy khám sức khỏe giả trên rồi chuyển cho Lan A và thu của Lan A số tiền 200.000 đồng còn Lan A tự mình ký và ghi họ tên vào phần trang 1 của giấy khám sức khỏe giả. Cùng ngày, Lan A mang giấy khám sức khỏe giả đến Bộ phận tiếp công dân của Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P để chứng thực thì bị phát hiện, xử lý.

Hành vi, ý thức của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 khoản Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Nội dung khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 341. Tội làm giả ... tài liệu của cơ quan tổ chức

1. Người nào làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức ... thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của các cơ quan Nhà nước, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước, vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có ý nghĩa giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

Nguyên nhân, động cơ, mục đích dẫn tới việc phạm tội là do bị cáo Lan A cần làm giấy khám sức khoẻ để làm hợp đồng lao động với cơ quan, tổ chức mà không muốn đến nơi làm các thủ tục khám sức khoẻ theo quy định nên đã nhờ bị cáo H đặt trên mạng xã hội làm giả đã dẫn các bị cáo đến con đường phạm tội như đã nêu trên.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:

4.1. Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên có căn cứ cho các bị cáo hưởng chung các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”.

4.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

4.4. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm trong vụ án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm. Tuy nhiên trong vụ án bị cáo Đào Thị H là người trực tiếp đặt mua trên mạng giấy khám sức khỏe giả, điền thông tin của Nguyễn Thị Lan A và thu lợi bất chính từ việc bán lại giấy khám sức khỏe giả cho Lan A nên bị cáo có vị trí vai trò cao hơn bị cáo Lan A trong vụ án.

[5]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:

Các bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình sinh sống tại địa phương các bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội nên đối chiếu với các quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì thấy không cần áp dụng hình phạt tù mà cho cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:

".4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

Xét thấy, bị cáo Đào Thị H hiện đang phải nuôi dưỡng 4 con còn nhỏ, không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo Nguyễn Thị Lan A có hoàn cảnh khó khăn, hiện chưa có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 356718114837153 được niêm phong ký hiệu G1; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo V21 5G, đã qua sử dụng, màu tím hồng, số IMEI: 868163057639111, số IMEI 2: 868163057639103, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0327.999.xxx và 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0372.848.xxx được niêm phong ký hiệu G3; 01 chiếc màn hình máy tính để bàn đề nhãn hiệu Lenovo kết nối với case máy tính không đề chủng loại đã cũ và qua sử dụng được niêm phong ký hiệu G5 – quá trình điều tra xác định đây là những công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần thiết phải tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, đã qua sử dụng, màu xanh, có số IMEI: 355883614882231, số IMEI 2: 355883614760072, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0963.915.xxx được niêm phong ký hiệu G4 – Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Q việc bị cáo Đào Thị H sử dụng để nhắn tin với Nguyễn Thị Lan A bằng ứng dụng za lô trên máy tính của gia đình không liên quan đến chiếc điện thoại trên, tại phiên toà anh Q có ý kiến được nhận lại tài sản này. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho anh Q quản lý sử dụng là hợp pháp.
  • - Đối với 01 chiếc bút bi mực xanh nhãn hiệu “matixs” và 01 tấm ảnh nữ giới mặc áo phông kẻ xanh, trắng cỡ 4x6cm được niêm phong ký hiệu G2 – Xác định là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • - Đối với số tiền 50.000đồng bị cáo Đào Thị H thu lợi bất chính cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

[8]. Về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo:

Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.

[9]. Đối với các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Trong vụ án này, Đào Thị H đặt làm giấy khám sức khỏe giả của một người không quen biết qua mạng xã hội Z, sau khi nhận giấy H đã xóa hết tin nhắn giao dịch và không nhớ tài khoản Zalo của người này. Đối với người lái xe ôm giao Giấy khám sức khỏe giả cho H, khi giao người này đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang, H không biết người này và không nhớ biển số xe của người này. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Văn Q là người đứng tên đăng ký tài khoản Zalo “Quảng Nguyễn P1”, anh Q khai tài khoản Zalo trên do vợ anh Q là Đào Thị H sử dụng, chủ yếu để phục vụ hoạt động kinh doanh tại cửa hàng Q2, anh Q không biết việc chị H trao đổi, mua bán Giấy khám sức khỏe giả với Nguyễn Thị Lan A. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Q là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 341; Điều 17, Điều 46, Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Thị H và Nguyễn Thị Lan A phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”
  2. Về hình phạt:
    1. Về hình phạt chính:
      1. Xử phạt bị cáo Đào Thị H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan A 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Thị Lan A cho UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Giao bị cáo Đào Thị H cho UBND phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
  3. Về biện pháp tư pháp:
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI: 356718114837153 được niêm phong ký hiệu G1 (tạm giữ của Nguyễn Thị Lan A); 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo V21 5G, đã qua sử dụng, màu tím hồng, số IMEI: 868163057639111, số IMEI 2: 868163057639103, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0327.999.xxx và 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0372.848.xxx được niêm phong ký hiệu G3 (tạm giữ của bị cáo Đào Thị H); 01 chiếc màn hình máy tính để bàn đề nhãn hiệu Lenovo kết nối với case máy tính không đề chủng loại đã cũ và qua sử dụng được niêm phong ký hiệu G5
    • - Trả lại: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, đã qua sử dụng, màu xanh, có số IMEI: 355883614882231, số IMEI 2: 355883614760072, bên trong gắn 01 thẻ sim Vietel số thuê bao 0963.915.xxx được niêm phong ký hiệu G4 cho anh Nguyễn Văn Q.
    • - Tịch thu, tiêu huỷ: 01 chiếc bút bi mực xanh nhãn hiệu “matixs” và 01 tấm ảnh nữ giới mặc áo phông kẻ xanh, trắng cỡ 4x6cm được niêm phong ký hiệu G2.
    • - Truy thu số tiền 50.000đồng (năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Đào Thị H do thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có.
    • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 23/02/2024)

  4. Về chi phí tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Thị Lan A và Đào Thị H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Hải Chiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đào Thị H phạm tội Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger