TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 25-4-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Thi
- Bà Nguyễn Thị Thoa
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuỳ Chi - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Thị H, sinh năm 1967 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình C và bà Lê Thị T; có chồng là Nguyễn Xuân K và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17 tháng 10 năm 2023; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Tuấn A; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 10 phút, ngày 29/6/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát trật tự - PC06 Công an thành phố H phối hợp cùng Phòng PK 02 Công an thành phố H và Công ty TNHH Một thành viên X kiểm tra, phát hiện Đặng Thị H có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề tại cửa nhà Số H Đường B, thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vật chứng thu giữ gồm: 01 tờ kê bảng đề; 09 tem ghi số lô, số đề; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S A34 5G và số tiền 3.900.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Thị H khai nhận: Do muốn kiếm thêm thu nhập nên H đã tự mua tem đề (tích kê) và tờ kẻ bảng đề để bán số đề tại nhà riêng tại Số H Đường B, thôn C, xã A, huyện A. Khi có khách đến hỏi mua số lô, số đề thì H sẽ ghi các số lô, số đề cùng số tiền tương ứng vào tờ tích kê, ký xác nhận phía dưới tờ tích kê, nhận tiền của khách mua số rồi đưa tích kê cho khách. Nếu có khách mua số lô, số đề bằng cách gọi điện thoại cho H thì H sẽ ghi số tiền mà họ mua số đề vào bảng kê. Khoảng 18 giờ 15 hàng ngày, H sẽ tổng hợp lại toàn bộ các số lô, số đề đã bán được từ các tích kê in mực giấy than vào bảng kê để tiện cho việc theo dõi. Kết quả trúng số đề, số bao lô dựa trên kết quả xổ số miền Bắc hàng ngày, trúng đề là trúng hai số cuối của giải đặc biệt, trúng ba càng là trúng ba số cuối của giải đặc biệt, trúng bao lô là trúng hai số cuối của các dãy số trong các giải. Tỷ lệ thắng tiền khi trúng số đề được 90 lần, ba càng được 400 lần, bao thường được 3,5 lần, xiên đôi được 15 lần, xiên ba được 48 lần, xiên bốn được 180 lần. Đặng Thị H trực tiếp thanh toán nếu người đánh số lô số đề trúng.
Khoảng 17 giờ ngày 29/06/2023, H bày tích kê, bảng đề ra trước cửa nhà để bán số lô, số đề. H đã bán được các số lô, số đề cho các khách (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) với tổng số tiền là 9.425.000 đồng, trong đó H đã thu được của khách mua số lô, số đề là 3.900.000 đồng, số tiền còn lại khách chưa trả tiền. Khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, khi H đang thực hiện việc kiểm kê số lô, số đề thì bị tổ công tác Công an thành phố H kiểm tra, phát hiện 01 tờ kê bảng đề; 09 tem ghi số lô, số đề thể hiện nội dung như sau: Tổng số tiền H ghi tại tích kê là 3.675.000 đồng, trong đó số thông tin bán số đề tại tờ số 01 là các số đề đầu 0, mỗi số 200.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000 đồng, đã ghi vào bảng đề và tự kênh lên số tiền là 1.000.000 đồng, tờ số 02 là các số xiên: 34-78 là 500.000 đồng, 3 là 300.000 đồng, 34-78-85-02 là 100.000 đồng đã ghi vào bảng đề và tự kênh lên tổng số tiền là 320.000 đồng, còn lại 07 tờ tích kê H đã bán số đề, số lô với số tiền là 775.000 đồng chưa ghi nhận vào bảng đề; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S A34 5G và số tiền 3.900.000 đồng.H dự định tự kênh lên 1.320.000 đồng khi nhận từ tích kê vào bảng kê để mình sẽ ghi mua số lô, số đề ở chỗ khác để hưởng tiền thưởng nhưng chưa kịp thực hiện.
Trong vụ án này, đối với những người mua số đề ngày 29/6/2023, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đặng Thị H khai bán số lô, số đề từ ngày 20/6/2023 nhưng không nhớ bán cho ai, được bao nhiêu tiền, chỉ nhớ bán với số tiền rất nhỏ.Ngoài lời khai của H, không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận phù hợp với biên vi phạm hành chính, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSAD ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương đã truy tố bị cáo Đặng Thị H về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, phân hóa vai trò của bị cáo, nêu tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị H với mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc và ấn định thời gian thử thách tương ứng. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy A34 5G, số tiền 3.900.000 đồng, tiếp tục truy thu số tiền 5.525.000 đồng của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải, trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong được Hội đồng xét xử cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
[2] Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên vi phạm hành chính, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Ngày 29/6/2023 Đặng Thị H đã bán số đề, số lô cho nhiều người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) với tổng số tiền 9.425.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã phạm tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, bản thân bị cáo là phụ nữ chỉ vì tham lợi nhuận, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử xét bị cáo công việc không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại Samsung Galaxy A34 5G là công cụ được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, số tiền 3.900.000 đồng là tiền bị cáo dùng để đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Truy thu của bị cáo số tiền 5.525.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Đặng Thị H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp có bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan:
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G đã qua sử dụng.
Tịch thu sung công quĩ Nhà nước số tiền 3.900.000 (Ba triệu chín trăm nghìn) đồng. Bị cáo phải nộp số tiền 5.525.000 ( năm triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn) đồng để sung công quĩ Nhà nước.
Đặc điểm chi tiết của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Giấy nộp tiền ngày 09/4/2024 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Lý |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H đánh bạc
