Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Đôi

Bà Khúc Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Viết C, sinh ngày 01/9/1996 tại Hải Phòng; nơi đăng ký HKTT: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Viết T và bà Ngô Thị L; chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 24/2018/HS-PT ngày 27/3/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 14/6/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11/6/2024 Phạm Viết C mượn xe mô tô nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 15B3-094.20 của anh Bùi Trung H đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng mua 06 ống ma túy và 04 túi nilon đều chứa ma túy Methamphetamine của người đàn ông không quen biết, với giá 2.100.000 đồng. Sau đó, C cất ma túy ở nắp bình xăng xe mô tô rồi điều khiển xe mô tô đi về thôn X, xã N, huyện K, khoảng 22 giờ 10 phút C dừng xe lại, lấy 02 ống ma túy trong nắp bình xăng cầm ở lòng bàn tay trái để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ. T1 trong lòng bàn tay trái Cương 02 đoạn ống nhựa (dạng ống hút) cùng kích thước 2,5x0,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu M1. Kiểm tra ở nắp bình xăng xe mô tô thu giữ: 04 đoạn ống nhựa (dạng ống hút) (gồm 03 đoạn ống cùng kích thước 2,5x0,5cm và 01 đoạn ống kích thước 3,5x0,5cm), bên trong đều chứa tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu M2 và 04 túi nilon cùng kích thước 1,5x2cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu M3 và xe mô tô biển kiểm soát 15B3-094.20

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Viết C, nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.

Kết luận giám định số 736/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu M1 là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,37 gam; Tinh thể màu trắng của mẫu M2 là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,88 gam; Tinh thể màu trắng của mẫu M3 là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 1,63 gam”.

Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3-094.20 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K chưa xác định được chủ sở hữu nên tách chiếc xe ra để xử lý sau. 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 2,46 gam Methamphetamine cùng vỏ bao mẫu vật) có dấu niêm phong số 736MT/PC09, chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý theo thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKSKT ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng, ngoài ra bị cáo trình bày có ông bà nội được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong nhưng bị cáo và gia đình không có tài liệu chứng cứ gì để cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Phạm Viết C mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 12/6/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 2,46 gam Methamphetamine cùng vỏ bao mẫu vật) có dấu niêm phong số 736MT/PC09.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 11/6/2024, tại thôn X, xã N, huyện K, Phạm Viết C có hành vi cất giấu trái phép 2,88 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt giữ. Như vậy, hành vi của Phạm Viết C đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây nên tệ nạn ma túy. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng kết án tại Bản án hình sự phúc thẩm số 24/2018/HS-PT ngày 27/3/2018, xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 11 tháng 5 năm 2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt chính. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm nghiêm trọng do cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 2,46 gam Methamphetamine cùng vỏ bao mẫu vật) có dấu niêm phong số 736MT/PC09; cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K chưa xác định được chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 15B3-094.20 và chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho C, nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Anh Bùi Trung H không biết C sử dụng xe mô tô đi mua ma túy và cất giấu ma túy ở xe mô tô, nên không bị xử lý là đúng pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phạm Viết C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Viết C 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 12/6/2024

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định (bên trong có 2,46 gam Methamphetamine cùng vỏ bao mẫu vật) có dấu niêm phong số 736MT/PC09 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Công an huyện Kiến Thụy;
  • - Trại tạm giam Hải Phòng;
  • - Phòng PV06 + PC10 Công an Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Sở tư pháp;
  • - Ủy ban nhân dân xã Ngũ Phúc
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đình Ngát

Đặng Thị Đôi

Phạm Thị Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Viết C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger