|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HSST Ngày: 24-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Luận
Ông Phạm Văn Khuyến
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/HSST- QĐQĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Thế N, sinh năm 1990 tại Thanh Hóa; Trú tại: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Thế V (đã chết) và bà Trịnh Thị V1, sinh năm 1969; bị cáo có vợ (đã ly dị), có 01 con Trương Thế S, sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Bà Đoàn Thị Hồng L, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Trịnh Thị V1, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2019, Trương Thế N làm công việc thầu vật tư lô cao su và có thuê bà Đoàn Thị Hồng L, sinh năm 1994, trú tại thôn P, xã P, huyện P làm. Mẹ ruột của L là bà Lê Thị L1, sinh naw cũng biết N.
Ngày 03/5/2019, N đến nhà bà L chơi và hỏi mượn xe mô tô hiệu Yamha, loại Sirius, biển kiểm soát (BKS): 93P1 - 728.15 của bà L1 để đi mượn tiền về trả tiền công cho những người làm thuê cho N, bà L1 đồng ý. Sau khi mượn được xe mô tô, N điều khiển xe đi mượn tiền nhưng không được nên N điều khiển xe đi đến tiệm cầm đồ tên “T” tại xã N, huyện B (do ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987, trú tại thôn B, xã P, huyện P làm chủ) cầm cố xe được số tiền 4.000.000đ. Thấy N mang xe trả cho bà L1, gọi điện thoại cho N, N không nghe máy nên ngày 04/5/2019, bà L điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, BKS: 93P1 - 174.72 đến nhà bà Trịnh Thị V1, sinh năm 1969 (mẹ ruột của N) tại thôn P, xã P, huyện P tìm gặp N. Do N không ở nhà nên bà L chở bà V1 đi tìm N. Khi đi đến khu vực UBND xã P, gặp em trai của N là Trương Thế T2 thì T2 chở bà V1 cùng bà L đi tìm N. Trên đường đi, N gọi điện thoại cho bà L và nói bà L đến nhà N1 ở thôn P, xã P, huyện P nên bà L, bà V1 và ông T2 đến nhà ông N1. Khi đến nơi, bà V1 và ông T2 đi về còn bà L ở lại nói chuyện với N. N nói với bà L là xe mô tô S1 đã mang đi cầm cố. Lúc này, bà L yêu cầu N phải trả lại xe cho mẹ của bà L. N nói bà L cho N mượn xe mô tô BKS: 93P1 - 174.72 của bà L để đi mượn tiền rồi chuộc xe mô tô S1 về trả lại cho bà L1, bà L đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô của bà L đến tiệm cầm đồ tên “T1” tại xã N, huyện B cầm cố được số tiền 6.000.000đ rồi khóa máy điện thoại không liên lạc với bà L nữa.
Ngày 15/5/2019, N gọi điện thoại nói bà L đến nhà N để đi lấy xe về. Nghe vậy, bà L và bà L1 đến nhà N, N dẫn bà L, bà L1 đến tiệm cầm đồ của Nguyễn Văn T1 để chuộc xe nhưng tiệm cầm đồ đóng cửa nên tất cả ra về.
Ngày 16/5/2019, bà L, bà L1 và N tiếp tục đến tiệm cầm đồ trên. Tại đây, N nói với bà L là cho N mượn giấy đăng ký xe mô tô chiếc xe Vision BKS: 93P1 - 174.72 của bà L để cầm cố thêm lấy tiền chuộc xe mô tô Sirius BKS: 93P1 - 728.15 của bà L1 ra trả cho bà L1 trước và hứa với L sau 10 ngày sẽ chuộc xe mô tô Vision BKS: 93P1 - 174.72 của bà L ra trả lại cho bà L, bà L đồng ý. Sau đó, N cầm cố thêm giấy đăng ký xe mô tô trên được 6.000.000đ, N đưa cho bà L để chuộc xe mô tô Sirius hết 5.000.000đ, còn số tiền 1.000.000đ bà Lương giữ.
Do không thấy N đến chuộc xe nên ngày 21/5/2019, T1 đã nhờ Phạm Văn P, sinh năm 1996, trú tại: thôn C, xã N, huyện B đem xe mô tô Vision BKS: 93P1 - 174.72 của bà L nêu trên đến cầm cố cho Nguyễn Thành G, sinh năm 1978, trú tại: thôn B, xã Đ, huyện B là chủ tiệm cầm đồ “Giáp Thắng” lấy số tiền 15.500.000đ để thu hồi vốn. Sau đó, N không có tiền chuộc xe và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã bán lại xe mô tô trên cho T1 lấy số tiền 20.000.000đ, T1 nhờ P đứng ra làm giấy mua bán xe với N (N trực tiếp viết giấy bán xe) và trừ đi số tiền 12.000.000đ đã đưa trước đó cho N khi cầm xe và giấy tờ xe, còn lại số tiền 8.000.000đ T1 đưa cho N. Ngày 12/6/2019, bà L không thấy N trả lại xe, gọi điện thoại không liên lạc được nên đã đến Công an xã P trình báo sự việc. Tại Cơ quan điều tra, Trương Thế N đạ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐG ngày 25/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P xác định giá trị của xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, BKS: 93P1 - 174.72 tại thời điểm tháng 6/2019 là 23.100.000 đồng.
Ngày 07/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu số: 137/QĐ về việc trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chữ viết và hình dấu vân tay in trên giấy bán xe đề ngày 06/6/2019 của Trương Thế N.
Ngày 29/12/2023, Phòng K Công an tỉnh B có bản kết luận giám định số: 1203/KL-KTHS trả lời: chữ viết bằng mực màu xanh trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết đứng tên Trương Thế N trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người viết ra và dấu vân tay trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với dấu vân tay ngón “trỏ phải” trên mẫu so sánh (ký hiệu M) là của cùng một người.
Tại bản Cáo trạng số 45/Ctr -VKSPR ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố Trương Thế N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước giữ nguyên Cáo trạng số 45/Ctr -VKSPR ngày 27/5/2024. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Thế N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo Trương Thế N từ 12 đến 15 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Trịnh Thị V1 (là mẹ của bị can N) đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại Đoàn Thị Hồng L số tiền 28.000.000đ. Bà V1 không yêu cầu N trả lại số tiền trên và bị hại cũng không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo N.
Đối với việc Trương Thế N cầm cố xe mô tô hiệu Yamha, loại Sirius, biển kiểm soát (BKS): 93P1 - 728.15 của bà L1, N đã chuộc lại xe mô tô trước khi bà L trình báo cơ quan Công an và trả lại cho bà L1. Do đó, nhận thấy N không có ý định chiếm đoạt xe mô tô trên và bà L1 cũng không yêu cầu nên hành vi này của N không cấu thành tội phạm. Do đó, Viện kiểm sát không đề cập xử lý.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn T1: Qua điều tra xác định tại thời điểm nhận cầm cố xe và giấy tờ của xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, BKS: 93P1 - 174.72 từ Trương Thế N và mua lại xe mô tô, T1 không biết xe mô tô trên do N phạm tội mà có nên hành vi của T1 không cấu thành tội phạm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo:
Bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
- Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận trên cơ sở mối quan hệ thân quen với bà Đoàn Thị Hồng L, ban đầu bị cáo mượn xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, BKS: 93P1 - 174.72 để đi vay tiền trả cho những người làm thuê cho N nhưng không mượn được tiền nên cầm cố lấy tiền. Khi bà L biết sự việc, Nam hẹn 10 ngày sau sẽ chuộc xe về cho bà L. Tuy nhiên, N đã không chuộc xe của bà L như đã hứa mà đã bán xe của bà L lấy tiền.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào ngày 04/5/2019, Trương Thế N mượn xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, BKS 93P1-174.72 trị giá 23.100.000 đồng của bà Đoàn Thị Hồng L. Sau đó, Trương Thế N đã mang xe đi cầm cố rồi bán cho người khác để lấy tiền. Khi không có khả năng chuộc xe trả lại cho bà L, N đã bán xe. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác - là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo là người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Khi lượng hình, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như tự nguyên sửa chữa, bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin bãi nại cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Thế N phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt
Tuyên bố bị cáo Trương Thế N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Thế N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Thế N phải chịu 200.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Thị Phượng |
Bản án số 67/2024/HSST ngày 24/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 67/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thế N chiếm đoạt xe máy
