TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 24 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học | |
| Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Ngọc Linh | 2. Ông Nguyễn Chí Vương |
| - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản. | |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên. | |
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 50 /2024/HSST ngày 13/6/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 09/7/2024 đối với bị cáo:
Trần Minh M, sinh năm 1990 tại Bến Tre.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.
Nơi đăng ký HKTT: 423A ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Trần Văn V, sinh năm: 1966, Mẹ: Đỗ Thị Thanh T, sinh năm 1971; Nơi đăng ký HKTT: 423A ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Vợ: Thị N, sinh năm 1990, Con: L, sinh năm 2014; HKTT: tổ A, ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Tiền án: Năm 2009 Toà án nhân dân thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 45/2009/HSST ngày 28/4/2009.
- Năm 2016 Toà án nhân dân huyện Hớn Quản xử phạt 05 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 47/2016/HSST ngày 12/9/2016 (chấp hành xong ngày 22/3/2021)
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 07/3/2006 UBND thị xã B ra quyết định số 1506 về việc xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng đối với Trần Minh M về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 17/01/2024, có hành vi Trộm cắp tài sản, đến ngày 07/3/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Phạm Thanh B, sinh năm 2001.
Nơi cư trú: Tổ 6, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (có đơn yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Khoảng 02 giờ ngày 17/01/2024, khi đến khu vực ấp S, xã T, huyện H nhìn thấy nhà chị Phạm Thanh B không khoá cửa, đèn sáng nhưng không có người, M dựng xe máy ở ngoài đường sau đó đi bộ vào nhà chị B tìm tài sản. Mẫn quan sát thấy cửa phòng khách đang mở nhưng không có ai ở đó nên M đi vào trong đến phòng ngủ thứ hai, nhìn vào bên trong thấy chị B đang ngủ. Trong phòng chị B có 01 máy tính xách tay (Laptop) nhãn hiệu Asus Vivibook để dưới nền nhà và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 đang cắm sạc pin để trên giường. M vào phòng lấy 01 điện thoại di động đang sạc pin và máy tính xách tay rồi điều khiển xe mô tô về nhà.
Khoảng 10 giờ 00 ngày 18/01/2024, M một mình điều khiển xe mo tô mang theo điện thoại và máy tính xách tay trộm cắp được của chị B đến cửa hàng điện thoại “Minh Hưng M1” của chị Kiều Thị Hồng S tại tổ A, khu phố C, phường M, thị xã C. Khi vào đến nơi, M gặp chị Kiều Thị Hồng S và anh Đạo Văn T1 là chủ cửa hàng điện thoại để bán chiếc điện thoại và máy tính xách tay vừa chiếm đoạt được. Sau khi xem máy, anh T1 có hỏi nguồn gốc các tài sản trên thì T1 nói mua lại của người khác nên không nhớ mật khẩu, anh T1 đồng ý mua điện thoại và máy tính trên với giá 3.000.000 đồng thì M đồng ý.
Sau khi bán điện thoại và máy tính trộm cắp của chị B cho cửa hàng điện thoại của anh T1, M điều khiển xe mô tô về tỉnh Bến Tre. Đến ngày 29/02/2024, sau khi điều tra, xác minh Công an xã T xác định Trần Minh M là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Phạm Thanh B vào ngày 17/01/2024 nên mời M về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc với Cơ quan công an thì M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTTTHS ngày 06/3/2024 kết luận: Giá trị còn lại của 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13, dung lượng 128GB tại thời điểm tháng 01/2024 được định giá là 9.000.000 đồng; Giá trị còn lại của 01 máy tính xách tay (Laptop) nhãn hiệu Asus Vivibook tại thời điểm tháng 01/2024 được định giá là 17.000.000 đồng
* Về vật chứng của vụ án:
- Thu giữ: 01(một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13, màu hồng, dung lượng 128Gb, có ốp lưng nhựa màu đen, I: 357688113322219, Imei 2: 357688113328802; 01(một) laptop nhãn hiệu Asus, loại Asus Vivobook, màu xanh đen, Model: AX200NGW, ID: MSQAX200NG; 01(một) vỏ hộp điện thoại di động Apple Iphone 13, năm sản xuất 2022. Ký hiệu: MLPH3VN/A Iphone 13, P, 128Gb, Model A. (S) Serial No. YCFDTPY2V5, IMEI1/MEID: 357688113322219, IMEI2: 357688113328802.
- Xử lý vật chứng: Các vật chứng trên là tài sản của bị hại Phạm Thanh B. Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho cho chị B là đúng quy định.
* Trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra bị hại chị Phạm Thanh B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Kiều Thị Hồng S không yêu cầu Trần Minh M hoàn trả số tiền 3.000.000 đồng đã mua điện thoại và laptop nên không xem xét.
- Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 10 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố Trần Minh M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo không tranh luận.
- Người bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý đúng quy định nên đề nghị không tiếp tục xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì nên đề nghị không giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Kiều Thị Hồng S không yêu cầu Trần Minh M hoàn trả số tiền 3.000.000 đồng đã mua điện thoại và laptop nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến, khiếu nại gì nên hợp pháp. Bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án; tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại và bị hại không yêu cầu gì thêm; Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra, truy tố cũng có lời khai phù hợp với nội dung vụ án và cũng không yêu cầu nên việc vắng mặt bị hại, người có quyề, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
- Về nội dung vụ án: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 17/01/2024, Trần Minh M đã nảy sinh ý định và lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13 và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu A có tổng giá trị 36.000.000 đồng của chị Phạm Thanh B tại tổ F, ấp S, xã T, huyện H.
Ngày 14/10/2026 Trần Minh M bị Toà án nhân dân huyện Hớn Quản xử phạt 05 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Bản án trên đã xác định M có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Ngày 22/3/2021, Trần Minh M chấp hành xong hình phạt tù, theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự Mẫn chưa được xoá án tích. Do vậy lần phạm tội này, Trần Minh M phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm.
Đối với chị Kiều Thị Hồng S và anh Đạo Văn T1 mua điện thoại và laptop do Trần Minh M trộm cắp, tuy nhiên khi mua tài sản anh T1 và chị S không biết tài sản đó do M trộm cắp mà có. Dó đó, không có căn cứ đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự đối vơi chị Kiều Thị Hồng S và anh Đạo Văn T1.
- Xét lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, kết luận giám định, và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác gí trị 3.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố. Trước khi phạm tội lần này bị cáo đã bị xét xử về một tội phạm khác với tình tiết tăng nặng là tái phạm nhưng chưa được xóa án tích; bị cáo phạm tội lần này phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiệm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ lén lút chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động và máy tính xách taycủa bị hại là hành bị pháp luật cấm nhưng chỉ vì cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi mình gây ra. Bị cáo đã bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội; thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo; là đối tượng khó cải tạo nên cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo phòng ngừa tội phạm.
- Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng định khung là tái phạm nguy hiểm.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng xong, trình tự, thủ tục đúng quy định pháp luật; bị cáo, bị hại và những người liên quan khác không khiếu nại, ý kiến gì nên hợp pháp và không tiếp tục xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên không giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Minh M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Minh M mức án 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tính tù từ ngày 01/3/2024.
- Về xử lý vật chứng vụ án:
Vật chứng vụ án trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định; bị cáo, bị hại không ý kiến, khiếu nại nên hợp pháp nên không tiếp tục xử lý.
- Về vấn đề dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt; bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì khác nên không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, các điều 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Minh M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
